Công Tử Hà Đông

Huy Cận
Huy Cận

Ngày xửa, ngày xưa…
Những năm 1940… trong thị xã Hà Đông hiền hòa chú thiếu niên hai mươi mùa mít chín sau đó tự nhận là Công Tử Hà Đông được đọc hai câu thơ:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
Hai câu không nhớ của thi sĩ nào làm. Sau tìm và biết là của Xuân Diệu. Chú thấy ý thơ hay hay. Hai câu ấy ở mãi trong trí nhớ của chú.
Bốn mươi mùa sầu riêng trổ bông sau đó, một người tù cải tạo ở trại lao động xã hội chủ nghĩa Z30A Xuân Lộc Đồng Nai được con trai lên thăm, đem cho quyển “Anthology of English Poems” do Đại học Oxford ấn hành. Tuyển tập thơ Anh dầy hai ngàn trang giấy, hơn một ngàn bài thơ của Shakespeare, Shelly, John Donne, Robert Browing, Mary Elizabeth Coleridge. Trong tập thơ, người tù yêu thơ tìm thấy bài thơ
The Call
Sound, sound the clarion, fill the file!
Throughout the sensual world proclaim:
One crowded hour of glorious life
Is worth an age without a name.
Thomas Osbert Mordaunt
Đêm buồn nằm thao thức trong tù nghe tiếng gió vi vu thổi đến từ núi Chứa Chan, người tù cảm khái bèn mần thơ dịch:
Tiếng gọi
Kèn vang lên, trống nổi lên
Lặng yên nghe – Tiếng loa truyền
Sống một giờ quang vinh rực rỡ
Hơn tầm thường trọn kiếp không tên!
Như vậy là phải chăng năm sáu mươi mùa ổi chín trước đây, Xuân Diệu đã đọc bài tứ tuyệt The Call của T.O Mordaunt và lấy ý ra làm hai câu
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm!
Hai câu thơ làm người tù đi một đường cảm khái, nhớ lại cả một thời thơ ấu “ngày xưa còn bé”.
Vèo trông lá rụng đầy sân.
Ái ân phù thế có ngần ấy thôi
Thấp thoáng đấy mà đã năm mươi mùa tu hú kêu trong những vườn vải đỏ. Còn nhớ như in những ngày tháng Tám năm 1945 chú thiếu niên Hà Đông náo nức đi biểu tình giành độc lập, những ngày đi kháng chiến thật đẹp ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, gót chân liên lạc viên đi dưới núi Thiên Thai, cửa Chùa Tiêu Sơn, Rừng Khế, nơi có lăng tẩm của các vị vua triều Lý ở trước làng Đình Bảng, từng sống trong thành Cổ Loa có giếng nước tục truyền được dùng để rửa ngọc trai thật tốt, từng sống trong làng Phù Đổng ven đê sông Đuống, quê hương của Thánh Gióng, những đêm mùa đông nước cạn, buộc quần áo lên đầu, ôm cây chuối bơi qua sông Đuống… Những năm xưa ấy, người tù Z30A “yêu mê” Việt Minh đến là chừng nào.
Vật đổi sao dời, khi nón cối, dép râu, súng AK, cờ đỏ ngơ ngáo vào Sài Gòn, chú thiếu niên năm xưa nay đã ở vào số tuổi của Mã Giám Sinh cùng không biết bao nhiêu người khác bị “Bác và Đảng” cho đi tù mút mùa Lệ Thủy. Chú không bị Bác giết là may, chú không chết vì bị Bác xách cổ đem đi trồng cũng là may.
Đã cảm khái người tù Z30A còn xúc động hơn khi anh đọc bài thơ Respice Finem của Francis Quarles. Đêm cuối năm lạnh lẽo trong tù anh nằm dịch bài thơ ra tiếng nước anh. Đây là nguyên bản:
Respice Finem
My soul, sit thou a patient looker-on
Judge not the play before the play is done
Her plot hath many changes , every day
Speaks a new scence, the last act crowns the play!
Francis Quarles
Vở tuồng đời
Ôi hồn ta ngồi yên mà coi
Vở tuồng đời
Đừng phê phán trước khi tuồng hết
Còn bao nhiêu màn khóc, màn cười
Tuồng đang diễn, làm sao ta biết
Mỗi ngày qua là một đổi đời
Chờ đến lúc coi xong màn kết
Mới biết tuồng hay dở mà thôi.
Trại cải tạo Z30A. Tháng 10-1989
Vài anh tù lỡ lời gọi cai tù là “đồng chí” liền bị các “đồng chí” cự:
– Anh nói ký gì? Ai “đồng chí” mí anh? Bậy bạ…
Nội quy nhà tù xã hội chủ nghĩa có điều bắt buộc người tù phải gọi cai tù bằng cái tên chung là “cán bộ”, không có ông, anh, nhất là không có “đồng chí”, “đồng rận” gì ráo trọi. Ngược lại cai tù cộng sản gọi tất cả những người dân bị chúng bỏ tù là anh, chị, dù cho anh, chị có bẩy bó, tám bó bằng tuổi ông bà nội ngoại chúng.
Nhưng Hà Huy Giáp, một trong số những cán bộ lãnh đạo văn nghệ đảng những năm 1975-1985 lại ưu ái gọi một số văn nghệ sĩ Sài Gòn lơ láo đi dự cái gọi là “Khóa bồi dưỡng chính trị” năm 1976 ở Nhà hát thành phố là “đồng chí”.
Số là Việt Cộng vào được Sài Gòn từ 30 tháng Tư năm 1975, nhưng mãi một niên sau – tháng Năm, 1976 –  chúng mới nhân dịp cho cái gọi là chánh phủ và Mặt trận Giải phóng Miền Nam đi chỗ khác chơi không sơi nước, chúng phát động chiến dịch hỏi thăm sức khỏe văn nghệ sĩ Sài Gòn VNCH. Nhiều văn nghệ sĩ, ký giả VNCH lớn nhỏ được xe công an đến tận nhà rước đi liền tù tì trong mấy ngày đêm đầu tháng Ba năm 1976.
Xin kể tên những người bị bắt theo trí nhớ của tôi: Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ Tế, Lý Đại Nguyên, Trần Việt Sơn, Nguyễn Hải Chí tức họa sĩ Chóe, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Duyên Anh, Đằng Giao, Trịnh Viết Thành, Dương Nghiễm Mậu, Mặc Thu, Thái Thủy, Hồ Nam, Cao Sơn, Minh Vồ chủ nhiệm Con Ong, Hoàng Vĩnh Lộc, Hồng Dương, Minh Đăng Khánh, Thân Trọng Kỳ, Lê Xuyên Chú Tư Cầu, Anh Quân, Tú Kếu Trần Đức Uyển, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Hồ Văn Đồng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Hữu Hiệu, Sao Biển, Hoàng Anh Tuấn đạo diễn “Hai chuyến xe bông” v.v… Nhiều không nhớ xiết.
Chiến dịch bắt bớ rầm rộ mấy ngày đêm đầu tháng, lai rai kéo dài mãi đến cuối tháng Ba năm 1976 mới chấm dứt. Không phải tất cả văn nghệ sĩ Sài Gòn đều bị bắt hết. Những người chưa bị bắt mặt mũi xanh xám không biết xe  công an đến rước mình lúc nào.
Tháng Năm, 1976, cái gọi là “Hội Văn nghệ Giải phóng Thành phố HCM” tổ chức cái gọi là “Khóa bồi dưỡng chính trị” cho văn nghệ sĩ Sài Gòn “kẹt giỏ” hàng dân lơ láo ở Thành Hồ. Khóa Bồi dưỡng Một có những văn nghệ sĩ thượng thặng của giới văn nghệ Sài Gòn đi dự: Thái Thanh, Hoài Bắc, Lê Trọng Nguyễn – Nắng Chiều, Thẩm Thúy Hằng, Lệ Hằng – Bản Tango Cuối Cùng, Nguyễn Thị Hoàng – Vòng Tay Học Trò, Nguyễn Thụy Long – Loan Mắt Nhung, Phạm Thiên Thư – Động Hoa Vàng v.v…
Mai Thảo may mắn trốn thoát cuộc bắt bớ, ở ẩn đến hơn hai năm cho đến đêm ông xuống tàu đi tìm đường cứu nước. Tử vi ông này không có sao quả tạ nên ổng không bị ở tù.
Khóa Bồi dưỡng Một không được tổ chức linh đình, không nhiều người tham dự bằng Khóa Bồi dưỡng chính trị Hai tháng Bẩy, 1976. Khóa Hai có trên năm trăm khóa viên hăng hái và rầu rĩ đăng ký tham gia. Giới nghệ sĩ cải lương đông người nhất. Tất cả những anh em kéo màn, chạy đề co – tức bầy dọn ngai vàng, bàn thờ Phật, bàn ghế, giường tủ trên sân khấu – những người bà con xa gần với bà Bầu, cô Đào v.v… đều là nghệ sĩ và đều tự thấy có quyền được dự khóa bồi dưỡng chính trị cho văn nghệ sĩ. Trong số 500 khóa viên có trên 300 mạng là nghệ sĩ cải lương, số 200 ngoe còn lại chia đều cho các tổ Thơ văn, Điện ảnh, Tân nhạc, Cổ nhạc….
Cái gọi là tổ Thơ văn – tức tổ chấy của các anh ký giả, văn nghệ sĩ viết tiểu thuyết kiểu “phơi-ơ-tông” – là tổ “được” cán cộng chú ý nhất. Cán cộng coi bộ môn sáng tác gồm những người tự mình chống cộng bằng tư tưởng, bằng tác phẩm của mình, không mượn tác phẩm hay ý tưởng của người khác. Cán cộng không coi quan trọng lắm những người thuộc bộ môn trình diễn, tức là những người khi được giao vai trò chống cộng thì chửi cộng ra rít theo lời người khác, khi được giao đóng vai chửi quốc gia thì lại mặt trơ, trán bóng chửi bới Việt Nam Cộng Hòa ra trò.
Khóa Bồi dưỡng chính trị Hai được khai mạc ở Nhà hát Thành phố. Người khai mạc là Hà Huy Giáp. Người lãnh đạo văn nghệ của miền Bắc xã hội chủ nghĩa có nhiều người dân không đến chết đói mà chỉ đói đến chết, lại có thể hình béo tốt, hồng hào, mặt mũi, da dẻ láng bóng quá cỡ thợ mộc. Khi ban huấn từ “lãnh đạo” nói một câu xanh rờn:
– Tôi gọi các bạn là “đồng chí” vì tất cả chúng ta đều chung một chí nguyện: làm cho nước Việt Nam được giầu đẹp, làm cho nhân dân Việt Nam được ấm no…
Hà Huy Giáp
Hà Huy Giáp

“Lãnh đạo” Hà Huy Giáp nói tiếp:
– Khóa này được gọi là khóa bồi dưỡng chính trị vì những người tổ chức thấy các văn nghệ sĩ Sài Gòn có thành kiến, có ác cảm với hai tiếng “cải tạo”. Thực ra cải tạo chẳng có gì đáng sợ. Chúng ta phải tự cải tạo mỗi ngày để trở thành người tốt…
Khóa học trong 21 ngày, khóa viên được bồi dưỡng sinh hoạt phí một đồng tiền Hồ mỗi ngày, được một lần cấp “nhu yếu phẩm”: nửa ký đường, hai hộp sữa, hai gói thuốc lá, một lạng bột ngọt. Được đớp hai bữa trưa ở nhà hát: bánh mì jambon mỗi mạng một ổ, nước ngọt, bia gọi là bia hơi được đựng trong thùng phuy. Khóa nào muốn uống phải mang theo ca hoặc mượn ca của khóa khác.
Những anh ký giả Sè Goòng trước đó một niên đã làm “Ngày Ký giả đi Ăn Mày” để bỉ mặt Tổng Thiệu, nay được dịp “ăn mày” thật sự. Ký giả là những người đói nhất trong giới văn nghệ sĩ bỏ nước chạy lấy người không kịp. Không phải anh em ký giả, văn nghệ sĩ Sài Gòn ta ngày xưa không kiếm được tiền, anh em kiếm được nhiều tiền hơn người nhưng tuyệt đại đa số anh em ăn chơi, tiêu hoang, kiếm được năm thì tiêu mười.
Việt Cộng vào Sài Gòn, anh em đói đến không có cơm mà ăn, không phải chỉ đói cà phê, đói phở, đói cơm sườn, đói giả cầy quán Bà Cả Đọi. Cùng dự khóa bồi dưỡng với kẻ viết bài này có Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang dịch giả Bố Già – The Godfather của Mario Puzzo. Hôm được phát “nhu yếu phẩm” như vừa kể người ta thấy vắng bóng Ngọc Thứ Lang ngay lập tức, rồi vắng bóng chàng suốt ngày hôm sau. Khóa viên không đến lớp vì còn bận tự “bồi dưỡng” bằng hai hộp sữa, nửa ký đường, hai gói thuốc điếu, lạng bột ngọt. Chàng phát mại ngay những thứ không nhu yếu gì với đời sống của chàng để lấy tiền “choác.”
Và khóa Bồi dưỡng Chính trị Hai có “Cô Khóa Mộng Tuyền”. Tháng Bẩy, 1976 ở Thành Hồ, Mộng Tuyền còn trẻ, đẹp. Ký giả đói, nhưng các em đào cải lương vẫn đông vàng, đông kim cang. Các em như Mộng Tuyền – bận bà ba phin nõn, quần đen, đi guốc – phây phây đến lớp. Các em không đi xế hộp, nhưng các em cũng không đi xế đạp, các em “ đi học” bằng xe xích lô.
Sau Hà Huy Giáp ban huấn từ khai mạc, khóa bồi dưỡng có từng này vị lên lớp, mỗi vị một ngày:
– Huy Cận nói về Thơ.
– Chế Lan Viên nói về người nghệ sĩ đi theo đảng
– Hoàng Trinh, lý thuyết gia văn nghệ nói về “sự bế tắc văn học – nghệ thuật của xã hội tư bản”
– Vũ Khiêu nói về văn nghệ chung chung…
– Bẩy Lý, Tổng biên tập báo Sàigòn Giải Phóng lên lớp về “Chủ nghĩa Mác-Lê-nin”
Huy Cận mập khỏe, nước da bánh mật, trông không có một vẻ gì là người làm được những câu “Nắng chia nửa bãi chiều rồi. Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu…” Huy Cận nói, đúng là nói vung xích chó, nói văng bọt mép. Ngoài việc khoe anh sung sướng, thoải mái mần thơ trong chế độ xã hội chủ nghĩa, anh còn khoe anh vẫn mần thơ tình, anh quả quyết chế độ xã hội chủ nghĩa không tiêu diệt thơ tình v.v… Chế Lan Viên yếu hơn Huy Cận về mọi mặt. Buổi nói chuyện của Chế Lan Viên được tổ chức ở rạp Olympic đường Hồng Thập Tự. Rạp không đủ đèn sáng. Chế Lan Viên ngồi bàn nói chuyện, đặt ly bia trên bàn. Mỗi lần diễn giả ghé mồm uống bia, micro bắt tiếng động làm người ta nghe thấy những tiếng “chụp choạp” rất xã hội chủ nghĩa.
Vũ Khiêu
Vũ Khiêu

Vũ Khiêu – nghe nói tên thật là Đặng Vũ Khiêu – là anh nói dở nhất trong cả bọn. Vốn liếng học thức của anh chỉ đủ cho anh nói láp nháp được trong một giờ. Buổi lên lớp của anh kéo dài cả ngày. Buổi sáng anh nói được hai tiếng thì tạm nghỉ để đi giải lao và đi đé, Ngọc Thứ Lang nói ngay:
– Thằng cha Vũ Khiêu này… hay chữ lỏng…
Thành ngữ Bắc kỳ gọi những anh chữ nghĩa đựng không đầy cái lá mít nhưng thích ba hoa nói những chuyện văn học, nghệ thuật là những anh hay chữ lỏng. Vũ Khiêu thuộc loại “Bắc Kít Hay Chữ Lỏng” điển hình. Anh nói ba lăng nhăng về Kiều, ca tụng Từ Hải như đại anh hùng dân tộc. Người nghe dốt nát nhất cõi đời này cũng biết anh quên, hay anh cố tình quên, ông cố, bà sơ anh có câu dặn con cháu:
Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều
Văn học lý luận gia Mác-xít Vũ Khiêu tỏ ra “hay chữ lỏng” rõ ràng nhất ở câu chuyện anh kể về cái gọi là “tình đoàn kết thân thương cố hữu” của dân tộc Việt. Anh đưa chuyện ngày xưa có nhà kia năm đời sống chung một nhà đoàn tụ gia đình hòa hợp với nhau. Vua nghe tiếng tốt bèn đến thăm và ban cho gia đình một trái lê với ẩn ý thử xem gia đình này chia nhau ơn Vua ra sao. Nhà đông tới hai, ba trăm miệng ăn. Làm sao chia cho mỗi người một miếng lê nhỏ bằng đầu que tăm xỉa răng? Trưởng gia bèn nẩy ra sáng kiến bỏ trái lê vua ban vào nồi ba mươi nước sôi, pha như pha trà, mỗi mạng uống một ly nước. Thế là cả nhà ai cũng được hưởng lộc vua.
Câu chuyện thuộc loại quân tử Tây gọi là “a-nếch-đốt” – chuyện truyền khẩu, chuyện ngoài lề nghe chơi rồi bỏ – trái lê nấu nước chia nhau uống xưa như trái đất. Đó là chuyện xẩy ra dưới một đời vua nào đó bên Tầu – nếu người viết không lầm thì là đời vua Đường, vua Mật chi đó – nhưng người văn nghệ Mác-xít Vũ Khiêu lại nói là chuyện xẩy ra đời vua Trần nước Việt.
Các đàn anh dzăng nghệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa lên lớp chung cho 500 đàn em dzăng nghệ, dzăng gừng, dzăng bút, dzăng báo, dzăng cơm, dzăng đủ thứ ở Thành Hồ tại nhà hát. Hôm sau, các khóa sinh trở về tổ mình thảo luận về đề tài đàn anh lên lớp hôm qua. Hướng dẫn viên tổ một Thi văn Vũ Hạnh gọi việc này là “đèo seo…”, tức “đào sâu” vào đề tài. Thảo luận thêm, tham gia ý kiến của mình, thường là ca tụng: “… Hay quá, giúp cho người nghe có tư liệu chất lượng tốt để hiểu thêm về dân tộc, về dzăng nghệ v.v…”. Những cuộc thảo luận “đèo seo” học hỏi này có biên bản để nộp các lãnh đạo dzăng nghệ.
Khi ấy, người viết bài này đã có ý định phát biểu mấy nhận xét để ghi vào biên bản gửi đến ông “Vũ Khiêu Hay Chữ Lỏng”. Đại khái:
– Chuyện trái lê nấu nước chia nhau uống là chuyện người Tầu đời Đường, không phải chuyện xẩy ra đời nhà Trần nước ta. Nhận vơ không hay hướm gì và tôi nghĩ ta không cần nhận vơ. Khi ông nói trước cả trăm người Sài Gòn chúng tôi về chuyện đó, tôi thấy:
– Nếu ông không biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu thì ông ngu quá.
– Nếu ông biết chuyện trái lê nấu nước là chuyện Tàu mà ông cho là chúng tôi hổng biết, ông có nói đó là chuyện đời nhà Trần chúng tôi cũng mù tịt thì ông cũng… quá ngu.
– Nếu ông biết chúng tôi cho việc ông nói chuyện trái lê nấu nước là chuyện người Việt là nói bậy mà ông vẫn cứ nói thì ông mặt trơ, trán bóng quá đỗi. Chúng tôi không có lời gì để đánh giá con người dzăng nghệ Mác-xít như ông.
Nhưng… nghĩ vậy người viết bài này đã không nói ra. Tâm trạng anh Khóa bất đắc dĩ tháng Bẩy năm 1976 đang đen hơn mõm chó mực, đen và rách hơn cái “lá đa ca dzao”:
Sáng giăng suông em nghĩ tối trời
Em ngồi em để cái sự đời em ra.
Sự đời như cái lá đa,
Đen hơn mõm chó, chém cha sự đời.
Các bạn anh đang ngồi rù trong tù, anh không bị bắt như anh em, vợ con anh không khổ nhục như vợ con anh em, anh vác bản mặt nhẵn hơn cái đũng quần lĩnh cô đầu đi dự “khóa bồi dưỡng chính trị”, anh ngồi tễu mặt nghe Việt Cộng nó dậy dỗ nó chỉ bảo, anh không câm miệng, cúi mặt xuống, anh còn ọ ẹ bắt bẻ Việt Cộng nỗi gì.
Nghe nói có lần nói chuyện xong Vũ Khiêu hỏi Đoàn Phú Tứ:
– Anh thấy tôi nói ra sao?
Đoàn Phú Tứ trả lời:
– Anh nói thì con rắn ở trong lỗ nó cũng bò ra nó nghe, nó bò ra nó nghe nhưng không thấy gì lạ  nó lại bò vào lỗ.
Công Tử Hà Đông

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *