Nguyên Huy

Thế là lại có chuyển trại nữa. Đó là điều lạ bởi vì khi đến đây bọn cai tù Việt Cộng đã nói với anh em chúng tôi rằng “đây là quê hương của các anh. Các anh sẽ được viết thư về cho gia đình, Đảng và Nhà Nước sẽ tạo điều kiện cho gia đình các anh tới đây làm ăn và nơi đây với công sức của các anh mai này sẽ là một thị trấn lớn, có bến cảng, có sân bay, có nhà ga đường sắt…”.
Khi ấy anh em chúng tôi, không ai bảo ai, đều ngước mắt nhìn quanh. Vẫn chỉ là núi rừng, cây cổ thụ và suối nước, chắc là nước độc. Vài ngày sau, đi lao động, gặp kín đáo được một số anh em Biệt Kích trước đây, nay sau 17 cho đến 20 năm tù ngục, tạm trở thành công nhân chuyên đi khai phá rừng để lập các nhà tù, trại tập trung cải tạo, chúng tôi mới được biết, nơi đây là Thanh Lâm thuộc tỉnh Thanh Hóa, giáp biên giới Hạ Lào.
Đến cả tháng nay, anh em trong trại tù cải tạo Thanh Lâm đã xì xào rất nhiều về một chuyến chuyển trại sắp tới. Cho đến bây giờ thì việc chuyển trại đối với anh em chúng tôi kể như một việc không trước thì sau thì lại diễn ra vì thường phải chuyển trại sau mỗi năm, có khi chỉ sau vài tháng. Thời gian nặng nề trôi nhưng cũng thoáng đi để chúng tôi mất dần ý thức thời gian rồi. Sáu năm đã qua kể từ ngày đất nước lọt vào tay cộng sản và lũ lượt anh em chúng tôi, từ cấp lớn đến cấp nhỏ, phải vào tù. Bao nhiêu đau đớn, xót xa, cay đắng đã qua, chất lên thành những ngọn lửa thù hừng hực trong những ngày đầu để rồi phải lắng xuống thành những cay đắng dằng dặc. Có khi chỉ còn lại là những bâng khuâng để rồi phải khuất mờ đi khi hình ảnh những củ khoai mì, khoai lang hay thậm chí một nắm đọt sắn, rau rừng nào đó, gợi ra miếng ăn vụng trộm làm chặt dạ dầy trong cái đói rét của miền núi rừng sát biên giới Việt Lào này.
“Sắp chuyển trại!”. Những âm thanh này đã gợi cho chúng tôi biết bao nhiêu điều khó chịu. Con người đã quen nếp sống, dù là nếp sống tù, thường không thích đổi thay, nhất là tuổi tác, anh nào anh nấy đều sấp sỉ 50 cả rồi. Nhưng cái điều phiền toái nhất là trong gần một năm yên chỗ tù này, đa số anh em đều tạo ra được những tiện nghi vật chất thô thiển, nhỏ bé cho cuộc sống như viên đá mài, mảnh sắt được luyện thành lưỡi dao bén, một vài chỗ dấu kín nơi chỗ nằm hay một vài điểm “tình báo” nơi nhà dân, nơi thường cho chúng tôi biết tin tức bên ngoài, cuộc sống khó khăn của dân chúng ra sao và nhiều khi có cả tin tức “Bột Bích Chi” (BBC) nữa. Nay, chuyển trại, tất cả những thứ đó đều mất. Bởi vì trước khi chuyển trại, bọn cán bộ coi tù thường có quy luật khám đồ. Trong cuộc khám xét này, bọn chúng tha hồ lục lọi từng chân tơ kẽ tóc. Một mảnh kim khí là có tội. Một miếng giấy chép lại lời nhạc xưa là tội lưu trữ Nhạc Vàng phản động hay là một gói muối hạt xin lén được từ anh em nhà bếp, là bị quy tội ngay là “có ý đồ trốn trại”. Một tập giấy dầu gói hàng đã nhem nhuốc tả tơi, được anh em cắt thành từng mảnh ghi chép linh tinh cách làm món ăn xưa mà nay rất thèm khát để đánh lừa dạ dầy, cũng bị cán bộ săm soi lật đi lật lại, soi lên ánh sáng…Chẳng may mà trong cuốn sổ ấy có ghi một bài nhạc trước 75 là chủ nhân tập giấy dầu đó bị đưa đi nhà kỷ luật ngay, bị cùm chân, ăn 9 kí thay vì 11, 12 kí như anh em ở ngoài. Tội danh là lưu trữ và có ý đồ phổ biến văn hóa đồi trụy…
Ôi! Còn biết bao nhiêu điều phiền phức nữa. Nhiều anh em có tính tằn tiện cứ vá đùm vá đụp mãi quần áo cũ, để dành những bộ “tray di” hoặc “rằn ri” mà chúng tịch thu được sau ngày 30 tháng Tư, 1975, nay chúng phát lại cho tù cải tạo nhằm sỉ nhục quân phục của quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Đối với chúng tôi, nhìn lại bộ quân phục xưa, ai nấy đều tủi hổ, tự cảm thấy một phần trách nhiệm. Nên ai nấy đều yêu quí dù trên áo, trên quần trại đã đóng những dấu “Cải Tạo” to tướng trên cả áo lẫn quần. Thế là chúng tịch thu, kết tội là liên hệ với dân để “mua bán đổi chác”. Thực tế, thì quả có việc ấy. Bởi lẽ dân chúng ở miền Bắc từ tỉnh đến quê đều rất mê những bộ đồ của quân đội VNCH đến độ những bộ đồ ấy đã trở thành “mô đen” thời đại. Họ sẵn sàng luộc cả con gà và nấu một nồi xôi nếp (thực phẩm siêu cao cấp ở miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa) mà có khi cả năm họ cũng không được ăn, để đổi lấy cái áo hay cái quần của tù.
Không ai bảo ai, chúng tôi bắt đầu thu gom “tài sản” của mình, tìm mọi cách để có thể “thoát” những cuộc khám xét này. Có anh em kiểm lại “tư trang” của mình mới thấy mình đã góp nhặt được cả bị các thứ đồ linh tinh, nào lon sắt, nào đinh, nào dùi sắt, khuy nút, kim chỉ, loại kim chỉ do anh em tự se lấy từ những bao tải rách để khâu vá những đôi giầy “dũng sĩ”. Nhìn đống đồ ấy thấy nó còn hơn một đống rác nữa. Thế mà nó lại rất quí bởi vì cuộc sống ăn lông ở lỗ mà anh em phải chịu đựng, nó đã giúp ích rất nhiều cho chủ nhân và cả những anh em khác bởi nhiều khi chỉ thiếu một cái khuy, sút một đường chỉ là cái áo hay cái quần tả tơi không thể nào ngăn cản nổi những luồng gió cắt da cắt thịt của mùa Đông núi rừng miền Bắc.
Thường thì bọn cán bộ tung tin chuyển trại từ nhiều tháng trước để chúng dùng thơi gian đánh lừa chúng tôi sơ hở, lơ là vì chờ đợi mãi mà không thấy nên tưởng là tin thất thiệt nên trở lại cuộc sống hàng ngày như trước. Rồi đùng một cái chúng ra lệnh biên chế đội ngũ, tổng kiểm tra khám xét. Thế là nhiều anh em không kịp dấu diếm những thứ cần phải dấu.
Một buổi sáng, giữa lúc chúng tôi đợi chờ chuyển trại và đã tưởng là không có thì tất cả được gọi ra sân tập hợp, thay vì đi lao động như mọi khi thì chúng bủa vây các phòng tù ở, không cho ai được trở vào nữa, phải ngồi cả ở ngoài sân để chúng tha hồ lục lọi.
Ngoài sân thì chúng đọc tên biên chế lại các đội ngũ lao động. Sự phân chia lại này gây ra nhiều dư luận xì xào suy đoán. Lần biên chế này thấy rõ nét vì phần lớn những anh em bướng bỉnh hay bị kỷ luật hoặc bị bọn quản giáo lưu ý, tóm lại là những anh em có thành tích xấu với chúng, được sắp vào hai đội khoảng trên 100 người so với trên 200 trong trại. Rồi chúng hối hả phân cách anh em chúng tôi. Đến lúc này thì đã rõ, ai đi, ai ở lại.
Phân nửa trại khoảng trên 100 người được dồn vào một dẫy nhà riêng phía cuối trại, cửa phòng được đóng khóa ngay lại. Còn chúng tôi, những người sắp làm một cuộc viễn du vô định không biết về đâu, được lịnh về buồng của mình sắp xếp “hành trang”.
Lúc này cảnh kẻ ở người đi thật buồn vời vợi. Những năm tháng trong tù đã kết nên nhiều tình bạn thật thắm thiết. Có những tâm sự mà tôi biết chắc nhiều khi đương sự không dám nói với vợ con thì lại đem trao hết cho tình bạn. Có những đôi bạn trẻ già cách biệt chỉ vì họ cùng mê những khúc nhạc cổ điển Tây phương trên cây đàn ghi ta tự chế. Có những đôi bạn sống như tình nhân, chỉ thích thầm thì với nhau riêng biệt mà ít khi hòa đồng với mọi người.
Thế mà bây giờ kẻ ra đi người ở lại…Anh em trong buồng giam, chen chúc nhau bên các song sắt cửa sổ nhìn ra, vẫy gọi, nhắn nhe. Họ đang than thở, số phận phải ở lại, và nói chắc chúng tôi sẽ được về Nam (Sau này chúng tôi mới rõ kẻ ở lại hạnh phúc hơn vì sau đó lần lượt được về hết, còn chúng tôi về Nam phải kéo dài đến 5,7 năm nữa).
Rồi cuộc sắp xếp xong xuôi. Cán bộ nhà bếp dẫn một đoàn “anh nuôi” (cũng là tù cải tạo nhưng được biên chế về nhà bếp) khuân những thúng bánh chưng nhỏ và một số lương khô của Trung cộng phát cho chúng tôi mỗi người ba phần ăn. Nhìn khẩu phần ăn, chúng tôi đoán ra ngay cuộc chuyển trại phải đi mất ba ngày đêm. Vậy là về Nam là chắc chắn rồi. Đến lúc đó anh em mới tạm yên lòng không dấu được niềm vui. Nhưng lại không có cách nào báo cho anh em ở lại được biết. Bắt đầu có những bàn soạn làm cách nào báo tin cho gia đình được biết đây. Thế là anh em lại hỏi nhau giấy bút để viết sẵn vài dòng chờ cơ hội.
Đoàn xe khách ba chiếc cho 100 người ì ạch tới đậu ngoài cổng trại. Tiếng nổ đinh tai nhức óc của những cỗ máy già nua khua động không khí núi rừng Thanh Lâm. Bọn cán loanh quanh bên mấy chiếc xe, thèm khát được lái. Một tên quay nhìn tôi khoe: “ Xe khách Ba Đình đấy”.
Giờ phút khởi hành bắt đầu. Chúng bắt chúng tôi xếp hàng đôi và tặng chúng tôi cứ hai người một còng số 8. Có những anh vốn không ưa nhau nay bị cặp chung, đòi đổi hàng nhưng bọn cai tù phòng xa tù trốn, nhất định không cho đổi, lại còn siết vòng cho chặt hơn. Gần 40 người trên những chiếc ghế gỗ trong xe. Trời lạnh nhưng hơi người tù bốc ra nồng nặc nên cũng ấm. Xe chuyển bánh. Núi rừng Thanh Lâm bắt đầu lùi dần.
Ra đến cổng trại qua khu gia binh của bọn coi tù, một quang cảnh hiện ra mà chúng tôi đều sững người. Dọc theo hai bên đường đất là cả trăm đàn bà con gái, cụ già trong gia đình bọn cán bộ doi tù, đứng vẫy tay từ giã. Anh em xôn xao “Chúng lại dở trò gì đây”. Một vài người vội ngồi thu lại né tránh, tưởng như sắp có một trận mưa đá như hồi chúng tôi bị giải ra Bắc. Nhưng không. Đoàn xe ba chiếc chạy qua, chúng tôi nhìn thấy rõ từng khuôn mặt xúc động. Có vài cô gái lấy vạt áo thấm nước mắt. Đâu đó vọng lên những âm thanh thắm thiết: “ Các anh đi nhớ. Chúc sức khỏe tốt”. Không thấy ai đọc bài “Lao động tốt! Học tập tốt!” nhắn theo lời chào.

Đoàn người kéo nhau đi thăm nuôi tù cải tạo. (Hình minh họa)
Đoàn người kéo nhau đi thăm nuôi tù cải tạo. (Hình minh họa)

Đó là nhân dân Việt Nam. Đó là tình cảm Việt Nam. Tình tự dân tộc ấy không bao giờ phai nhạt dù chế độ có hà khắc đến mấy. Bởi vì trong những ngày tháng anh em ở trại tù này, đối với đàn bà trẻ em và các cụ già trong gia đình bọn cán, chúng tôi chỉ thấy họ là những người dân Việt thật thà, cần mẫn. Có dịp là chúng tôi giúp đỡ, trao gởi những ân tình con người. Và dần chúng tôi đã cảm hóa được tất cả. Sau Sáu năm ở miền Bắc, người dân ít tai còn gọi chúng tôi là “ngụy” nữa. Cụ già 78 tuổi , thân sinh của tên trại trưởng, trong một lần chúng tôi phải vào làm vệ sinh tạp dịch trong tư dinh của hắn, đã ra cùng làm với chúng tôi và ôn tồn nói: “Các chú chịu khó nín nhịn chúng nó để mà còn về với vợ con gia đình. Thời buổi nó nhiễu nhương, chẳng ra làm sao cả”.
Đoàn xe chạy qua, tôi cố nhướng mắt tìm lại cụ già trong đám đông, nhưng những xúc động đã làm tôi lãng quên. Có những em nhỏ đã chạy theo xe như thể trong một cuộc tiễn đưa “ngày giao quân của huyện (đi nghĩa vụ quân sự). Không khí trong xe lắng xuống. Hai tên vệ binh đi theo xe lẩm bẩm với nhau cái gì như chửi thầm. Nhưng trên nét mặt chúng vẫn lộ ra nét vui tươi hớn hở vì chúng đã được chọn đi theo tù để được biết miền Nam, miền đất “phồn vinh hiện đại” mà chúng đã được nghe những người vào Nam về nói lại.
Nguyên Huy
(Còn tiếp)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *