Thế là đã cuối năm…

Cái câu rất đỗi bâng quơ này coi vậy chứ cũng gây nhiều thổn thức. Với những người trẻ hoặc sinh trưởng trên đất Mỹ, cái cảm xúc ấy ra sao thì tôi không biết. Nhưng tôi dám chắc rằng, với những người trung niên trở lên, chẳng mấy ai không tràn trề những hồi ức của quê hương về khoảng thời gian cuối năm, năm hết Tết đến mà.

Cũng có thể tôi lầm, chẳng qua vì mỗi cuối năm, dân làm báo chúng tôi luôn chộn rộn trước thiên hạ vài tháng trời để lo thực hiện báo Xuân: Đặt bài, tìm hình ảnh, biên tập, in ấn… đều phải xong xuôi trước cái Tết ít là vài tuần, để còn kịp trình làng, để mong gửi một chút không khí êm đềm mà náo nức ấy đến tay độc giả. Trên bàn làm việc của tôi hôm nay đã đỏ rực hình ảnh Tết qua các trang in thử báo Xuân, có những thứ tưởng đã chìm sâu lắm trong ký ức bỗng trở về.

Thật ra, nếu không có báo Xuân – thứ báo mà chỉ có người Việt mới có ấy – thì cuộc sống cứ lôi người ta vào dòng đời mải miết, làm sao có dịp tìm lại chút hương xưa? Hương xưa. “Cu kêu ba tiếng cu kêu, trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè” chỉ còn là dư âm cũ của một ngày xa xưa lắm, ở quê hương Việt Nam mến yêu của chúng ta nay cũng không còn. Thật thế, nỗi háo hức đón Tết ngày xưa là nỗi háo hức của đám trẻ mong được mặc tấm áo mới tinh thơm tho, sột soạt mùi vải; là nôn nao vì các bữa ăn dư dật món ngon, khác hẳn ngày thường. Là phút dừng chân, nghỉ ngơi để nhớ về tiền nhân, để điểm lại đời sống sau một năm tất bật của người lớn.

Tết, như thế đã trở nên một biểu trưng của ấm áp, no đủ của một thời khốn khó. Nay khác nhiều rồi, tôi không định nhắc đến người Việt đang sống ở các nước giàu có – nơi mà thực phẩm và đồ dùng thừa mứa đến độ phí phạm – ngay tại các thành phố lớn trong nước, lớp thị dân trung lưu dường như đã “bị tước đoạt” mất thú vui thưởng Tết vì sự dư dật vật chất. Nhiều gia đình thay vì rộn ràng sắm sửa “ăn” Tết, nay “lên lịch” nghỉ ngơi bằng những chuyến du lịch ở nước ngoài, nước người. Cũng có thể họ không còn một chốn quê hương làng mạc để trở về.

Anh bạn tôi, một người nghệ sĩ thành đạt vừa kể rằng anh sẽ đón Tết bằng cách ra một resort vùng biển, một mình một cõi “thưởng Tết”, nghe đượm buồn làm sao. Chẳng qua vợ anh đã qua đời, các con thì trưởng thành và sống nơi xa, chẳng có gì gắn kết với truyền thống xứ sở. Tôi hiểu anh, vì ngay khi còn trong nước, sống ở Sài Gòn tôi vẫn thấy trống vắng trong những ngày Tết. Mà trống vắng thật, theo nghĩa đen, khi đường xá Sài Gòn vắng ngắt từ chiều ba mươi kéo qua đến mùng năm. Những chuyến xe đò đầy ắp người cuối cùng đã chuyển bánh, đưa kẻ xa quê về lại nhà mình. Khi đó các dãy phố phường đóng cửa im ỉm, hàng quán thưa thớt, tiếng ồn ào náo nhiệt của ngày giáp Tết ngưng bặt. Chỉ có mùi hương trầm ngào ngạt hoặc thoảng bay từ mái chùa, từ bàn thờ gia tiên ra con phố, ngõ hẻm.

Vâng, hồi còn ở trong nước tôi đã không có quê để trở về, để một lần đắm mình giữa cái rộn ràng, giữa niềm hân hoan của làng xóm họ hàng. “Quê nhà xa lắc xa lơ đó, ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay” câu thơ ông Nguyễn Bính làm khi ông còn đang làm chuyến hành phương Nam thật chính xác mà ngậm ngùi. Bố mẹ tôi thì rời phố phường, rời làng mạc quê cũ di cư vào Nam từ khi tôi chưa sinh ra, ngay cả ông bà cũng “mất quê hương” từ ngày đó. Tôi chào đời nơi một tỉnh lỵ cao nguyên, mở mắt ra là thấy phố chợ, biết tìm quê ở đâu. Thêm một lần, bước đường đời đưa tôi đi xa thật xa, như bứt hẳn cội rễ. Tha hương thật, không phải chỉ từ Bắc vào Nam như Nguyễn Bính, như cha mẹ tôi ngày xưa. Dĩ nhiên có rất nhiều người chia xẻ với tôi nỗi niềm ấy, cả ở Sài Gòn lẫn nơi Mỹ quốc này.

Một anh bạn thi sĩ ở Sài Gòn, nổi danh với bài thơ về quê hương mới viết: “ở chỗ đứng của tôi, một người có đến quá nửa cuộc đời không là lính thú tiền đồn, không tha hương chỉ phiêu bạt vẫn quá nhiều cái tết không về nhà. Mái nhà nhỏ nhắn hay căn phòng thuê trọ nghèo nàn, nơi người mẹ chờ ở đấy. Tôi vẫn không về. Từ căn phòng trọ nơi nào đó của mình quả như Thế Lữ viết “rũ áo phong sương trên gác trọ – lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang…” có Tết mà không có nhà, khi có nhà lại không có quê. Kẻ làm bài thơ rồi sẽ có cái tên thứ hai thành “ quê hương “ nhưng không có quê nhà . Chỉ buồn bã theo thơ ca… quá nửa đời như thế, vậy mà kẻ ấy suốt đời mê Tết , suốt đời nhớ Tết . Tết không hẳn chỉ món ăn thức uống, gác trọ nghèo nàn thì bà chủ nhà ngày Tết cũng để trước cửa phòng chiếc bánh chưng nho nhỏ “cậu không về thì ở đây cũng có Tết cho cậu, với chúng tôi , đừng khách sáo ! “ Tết là chia sẻ, cái tinh thần ấy ngày thường do tất tả áo cơm có thể đâu đó khuất chìm đi,nhưng ngày tết thì nó rõ lắm, gần gũi lắm. Chiều mùng ba đi đâu đó,khi trở về gác trọ nghe tiếng pháo lác đác, đì đùng trong xóm ngõ bỗng nảy xin chủ nhà cho thắp cây hương lên bàn thờ gia chủ, xin cùng tiễn “ông bà” . Ông bà của họ, nào phải của mình nhưng Tết đấy ! Khác ngày thường không ? Rất khác ! Rất nhiều thứ ngoại cảnh, nội tâm làm cảm động lòng người…”

Cảm động chứ, dù không có quê, không còn quê để về. Đêm trừ tịch, đợi đến lúc giờ khắc chuyển qua năm mới, hãy gõ một tiếng chuông, thắp một nén hương nâng lên trán, rồi thành kính cúi lạy ông bà tổ tiên, dù có hay không hình ảnh ông bà trước mặt, trên bàn thờ gia tiên. Ông bà phảng phất ngay nơi hình hài mình, hình hài con mình… Chẳng phải vậy sao? Tâm thức người Việt vì thế sẽ không phai nhạt, ngàn năm trước hoa đào đã nở, trăm năm trước mai vàng vẫn nở kia mà. Tôi đọc báo online mấy ngày nay nghe thiên hạ tranh luận về ông này, vị kia đề nghị bỏ Tết Nguyên Đán, cũng có vài cuộc tranh luận – không mấy hào hứng – về chuyện đó. Cũng phải thôi, cái Tết có thể gây tốn kém, gây phiền toái rất nhiều trong đời sống… Nhưng chừng nào người ta còn chộn rộn chuyện về với quê hương, với làng mạc, với tập tục và còn biết xách cuốc ra giẫy cỏ cho mồ mả ông bà thì ngày ấy đừng bàn chuyện bỏ Tết Nguyên Đán.

Tôi lại trích tiếp bài viết ngắn của anh bạn “không có quê” ở trên: “Thôi trở về với tết. “Con biết bây giờ mẹ chờ em mong…khi thấy mai đào rộn ràng bên hiên…bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng…trông bánh chưng chờ trời sáng…đỏ hây hây những đôi má đào…”. Rất nhiều năm tôi để mẹ chờ em mong, rất nhiều năm tôi không bên bánh chưng chờ trời sáng, ai nói nghèo không cần Tết, cái từ “Tết” vẫn cứ làm rung động, thổn thức luôn cả những người giàu có, dư giả. Tết ! là có thể một mùa cho thấy rõ hơn cái không bình đẳng của xã hội nhưng chắc chắn nó bình đẳng về tâm thức – từ tâm thức, con người cởi mở, hỉ xả gần lại với nhau. Như chiếc bánh chưng của người chủ nhà mang lên gác trọ cho gã thanh niên không về nhà. Nếu ở những cổng chùa ngày Tết: “em thấy hơn một trăm ăn mày …” như cô gái của Nguyễn Nhược Pháp, thì em, cô gái ấy, hôm nay cũng có thể rất mơ thành triệu phú để có đủ tiền cho đủ “100 ăn mày “ ấy ngày xuân với cành lộc nõn trên tay.
Bây giờ, tôi không không còn phải đưa ai, bạn bè, người quen ở trọ cuối năm ra bến xe, bến tàu tay xách nách mang. Có tiền thì mua quà tết, không thì chỉ túi vải vài bộ quần áo về quê. Về quê là có tết.khoảnh khắc ấy, khi vẫy chào nhau chuyến xe chuyển bánh tôi buồn tủi vô cùng. Họ giàu hơn mình khoảnh khắc này, họ có quê để về. Ta lại thui thủi một mình nơi gác trọ. Nhà còn chưa có nói gì “ quê – nhà” . Nhưng vẻ đẹp buồn đến thế của chiều 30 tết dễ gì ai cảm nhận như mình
Ta -quê – hương – thiếu -một- quê – nhà
Chiều cuối năm nhìn những chuyến xe qua
Mấy mươi năm vẫn một chiều rất cũ
Vắng tự trong lòng vắng thổi ra…
Biết ơn cái vắng ấy …
Biết ơn tết vô cùng…
Chiều cuối năm bên hiên nhà ai
Một cành hoa âm thầm…
Tết !

Tôi cũng như anh bạn ấy, nhà còn chưa có lấy chi “quê nhà” vì cái quê hương của cha mẹ mình tít tắp nơi xứ Bắc xa xôi. Mờ mịt cả trong dâu bể cuộc đời. Bố tôi rất thường nhắc, càng về già càng hay nhắc đến quê xưa, với ao chuôm nơi nhà cũ, với cây đa, khóm trúc, với hàng giậu mồng tơi và tiếng chuông nhà thờ xứ đạo của bẩy tám chục năm trước. Thế nhưng, bảo ông cụ về quê một lần, ông lại hững hờ, dù cụ đã qua tuổi 90. Tôi chịu, chẳng hiểu vì sao. Có lẽ từ khi đi tù vì Việt Minh rồi di cư vào Nam, rồi lại đi tù “cải tạo” cái chốn quê xưa của ông chỉ đầy ắp những hồi ức buồn đau, ông chỉ muốn lưu lại kỷ niệm xa lắc thời còn là trẻ nhỏ, chưa biết gì về loạn lạc, về bên này lẫn bên kia.

Bây giờ nơi chốn, khoảng cách không gian không còn là cách trở, từ bên này muốn nói chuyện với bố mẹ bên kia quả địa cầu, tôi chỉ cần bấm phone chờ ở nhà cùng online. Cha mẹ đã quá già yếu, còn được nói chuyện vẫn còn là niềm hạnh phúc. Song, sau một cuộc trò chuyện, nhiều khi vẫn chẳng thấy lòng mình vui hơn bao nhiêu, đôi khi thật buồn. Chẳng hạn gần giao thừa năm ngoái, mẹ tôi hỏi “mai con có về được không?”, bà không còn ý niệm gì về không gian, thời gian lẫn tình trạng tha hương sống đời tỵ nạn của con trai mình. Đôi khi bà tưởng tôi vẫn còn đâu đó ở ngoài hiên cửa hay chỉ mới tạt đi đây đó vài ngày. Sự đoàn viên trong ý nghĩa của cái Tết trở nên xa lắc hơn bao giờ hết, mà trí nhớ mẹ mình lại đã mênh mông rồi.

Thôi, tôi lại quay về với Tết nhân một chiều cuối năm. Chỉ ít ngày nữa thôi những cây bích đào tại quận Cam sẽ đâm ra các cành non lộc biếc, ở thân nhánh các nụ nhỏ li ti rồi sẽ trổ ra từng chùm hoa rực rỡ huy hoàng… Tấm biểu ngữ quảng cáo trước khu Phước Lộc Thọ cho biết chợ Tết Việt năm nay sắp mở cửa, đã thấy trong không khí mùi Tết thoảng bay. Vẻ đẹp của Tết Việt tại quê người dĩ nhiên không đậm đà như ở quê mình. Nhưng sao tôi vẫn bồi hồi thèm Tết, như những ngày xa xưa.

Uyên Vũ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *