Mạnh Kim
Bằng vào những bài viết “báo động đỏ” trên báo chí Mỹ, có vẻ như Mỹ quả thật sắp đến hồi “mạt”. Giáo dục Mỹ dường như đang trong giai đoạn nguy kịch trầm trọng “không thuốc chữa”, khi các nhà nghiên cứu liên tục đưa ra những con số so sánh cho thấy thế hệ trẻ Mỹ ngày nay trở nên “ngu” một cách đáng sợ. Có thật bi thảm vậy không?
Thế hệ trẻ Mỹ thờ ơ với việc học?
Báo cáo “Brown Center Report on American Education 2017” đã cho thấy những con số báo động. Xét về toán, học sinh trung học Mỹ đang thua xa các bạn thế giới – dựa vào kết quả nghiên cứu và khảo sát tại 73 nước. Theo kết quả PISA (Program for International Student Assessment) công bố năm 2015 (mới nhất, tính đến thời điểm hiện tại), học sinh Mỹ nằm ở hạng 40; với điểm toán trung bình là 470 (so với 482 năm 2012 và 488 năm 2009). Về môn đọc và khoa học, học sinh Mỹ cũng “ngửi khói” các bạn trang lứa thế giới, với hạng 25 về đọc và hạng 24 về khoa học. Marc Tucker – chủ tịch Trung tâm quốc gia về giáo dục và kinh tế Hoa Kỳ – phải ngửa mặt lên trời mà than: “Chúng ta đang sống trong một thế giới liên kết cực cao. Và Mỹ không thể thực hiện hiệu quả một nền kinh tế đẳng cấp thế giới nếu công nhân của chúng ta, như những thống kê từ Tổ chức Phát triển và Hợp tác Kinh tế cho thấy, nằm trong số những người có trình độ giáo dục kém nhất thế giới”!
Một phóng sự của L. Alan Sroufe trên New York Times cho biết có đến ba triệu trẻ em Mỹ đang phải dùng các loại thuốc “bổ não” bởi chúng không thể tập trung khi học. Cuối năm 2011, các loại thuốc phổ biến như Ritalin và Adderall bị hút hàng mạnh đến mức nhà thuốc tây không còn lọ nào để bán! Một phóng sự khác, cũng của New York Times, cho biết một trường trung học ở Chandler (Arizona) dù được trang bị laptop và học trò được dạy cách bình luận văn Shakespeare bằng… blog và Facebook cũng như biết cách gài nhạc hiện đại vào bài tập để minh họa sống động cho bài văn nhưng cuối cùng “ngu vẫn hoàn ngu”.
Tương tự vô số bài viết tiên đoán chắc cú (trong đó có nhiều tác giả vốn là giáo sư đáng kính chẳng hạn Niall Ferguson-giáo sư Harvard) về sự giãy chết không thể tránh khỏi của “đế quốc Mỹ” liên tục xuất hiện dày đặc một thập niên qua, những cảnh báo về sự trì trệ tệ hại của giáo dục Mỹ đã trở thành đề tài quen thuộc trên các mặt báo. Cách đây hơn 10 năm, trong quyển The world is flat (ấn bản update 2006, từ trang 326-334), khi đề cập đến diện mạo te tua của giáo dục Mỹ, Thomas Friedman đã nói rằng “chúng ta đang trong một cuộc khủng hoảng”, rằng “chúng ta cứ như một người đang say ngủ trên một chiếc nệm hơi và không khí bị xì từ từ, chậm đến mức bạn hầu như không thể cảm thấy được, cho đến khi cái đầu của bạn đập xuống nền ximăng” (trang 326, sđd).
Trong thực tế lịch sử, nước Mỹ dường như từng bị “đập đầu xuống nền ximăng”. Và không chỉ một lần. Sáu tháng sau vụ Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik, tờ Life đã thực hiện một chuyên đề về sự “khủng hoảng của nền giáo dục nước nhà”, trong đó có phóng sự ảnh cho thấy một cậu nhóc 16 tuổi ở Chicago đang ngồi “ton hót” với nhỏ bạn gái trong khi người bạn đồng lứa của nó ở Moscow phải học sáu ngày mỗi tuần trong đó có những tiết thí nghiệm hóa học và vật lý rồi còn gạo bài văn chương Nga lẫn Anh! Thanh thiếu niên Liên Xô sôi kinh nấu sử đến mức đó thì việc phóng vệ tinh với họ hẳn là một kết quả đương nhiên.
“Quốc gia chí nguy”!?
Năm 1958, Quốc hội Mỹ phản ứng với vụ Sputnik bằng việc thông qua Đạo luật giáo dục quốc phòng quốc gia với việc chi bộn nhằm khuyến khích sinh viên học toán, khoa học và ngôn ngữ nước ngoài. Những tưởng tình hình lạc quan hơn nhưng kết quả cuộc thi toán quốc tế năm 1967 cho thấy Nhật đứng đầu bảng trong 12 quốc gia trong khi Mỹ được xếp gần chót! Trước đó, năm 1961, trong quyển What Ivan knows that Johnny doesn’t (Những gì Ivan biết trong khi Johnny mù tịt), tác giả Arthur S. Trace Jr. nói rằng học sinh Mỹ chỉ đáng xách dép cho học trò Liên Xô bởi thiếu niên Mỹ không học đủ về ngữ âm và từ vựng. Đầu thập niên 1970, học sinh Mỹ vẫn “đội sổ” trong số các nước công nghiệp ở bảy trong 19 bài thi. Một thập niên sau, dân Mỹ tiếp tục choáng váng đến mụ mẫm cả người khi đọc bản báo cáo năm 1983 A nation at risk (Quốc gia chí nguy) của Ủy ban quốc gia về giáo dục ưu tú…
Quả thật là học sinh Mỹ “rất ngu” khi xét đến yếu tố học để “tầm chương trích cú”; và giáo dục Mỹ cũng không “hiệu quả” ở việc sản xuất những học sinh chuyên làm “gà chọi”. Yếu tố làm thế nào để mang lại tư duy độc lập cho học sinh với giáo dục Mỹ luôn là trọng tâm. Xét đến giáo dục Mỹ, còn phải nói đến sự vận hành của một hệ thống mở trong đó yếu tố ứng dụng mới là điều kiện hàng đầu chứ không phải khả năng thuộc bài. Các thống kê về ngân sách R&D (nghiên cứu và phát triển) đã cho thấy thấy rõ tính ứng dụng của giáo dục Mỹ nói riêng và nước Mỹ nói chung.
Trong báo cáo R&D năm 2016 (do Viện Battelle và R&D Magazine thực hiện, công bố ngày 16 tháng Mười Hai 2016), Mỹ vẫn đứng đầu thế giới về R&D với mức 31,1% của thế giới; so với 35,5% của toàn châu Á năm 2011 và 24,5% của châu Âu. Một báo cáo của Rand Corp (dẫn lại từ Foreign Policy) cho biết gần 2/3 bài báo khoa học-kỹ thuật được trích dẫn nhiều nhất đều đến từ Mỹ; và một tỉ lệ cao đến 7/10 nhà khoa học đoạt Nobel đang làm việc tại các đại học Mỹ. Không đến nỗi ảm đạm như nhiều người tưởng, Chính phủ Mỹ thật ra đã chi đến 2,9% GDP cho giáo dục sau trung học, gấp đôi so với Trung Quốc, EU và Nhật. Nếu không tốt, giáo dục Mỹ hẳn không trở thành một ngành “công nghiệp” đào tạo hấp dẫn.
Trong báo cáo Open Doors 2017 công bố ngày 13 tháng Mười Một 2017 của Viện giáo dục quốc tế Hoa Kỳ (IIE), số sinh viên nước ngoài tại Mỹ đã tăng 3,4%, lên 1.078.822 người, trong niên khóa 2016-2017. Đây là năm thứ 11 liên tục mà báo cáo Open Doors ghi nhận tỷ lệ tăng cao số sinh viên nước ngoài tại hệ thống đại học Mỹ. Cần nói thêm, theo ghi nhận Bộ thương mại Hoa Kỳ, số du học sinh nước ngoài đã đóng góp hơn 39 tỷ USD cho nền kinh tế Mỹ trong năm 2016 (so với 35 tỷ USD năm 2015). Các bang có du học sinh nước ngoài nhiều nhất là (theo thứ tự): California (với 156.879 sinh viên); theo sau là New York, Texas, Massachusetts và Illinois. Đại học có nhiều sinh viên nước ngoài nhất (theo thứ tự) là: New York University, University of Southern California; Columbia University, Northeastern University, Arizona State University, và University of Illinois…
Trong thực tế, Mỹ là nước có truyền thống hiếu học. Người Thanh giáo đã thành lập Đại học Harvard năm 1636, chỉ hai thập niên sau khi lần đầu tiên đặt chân đến New England. Tỉ lệ người được học giáo dục nâng cao tại Mỹ cũng nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào (1/3 người ở tuổi đại học có bằng đại học thứ nhất và 1/3 trong số đó tiếp tục học để lấy bằng thứ hai hoặc thạc sĩ-tiến sĩ). Xin để ý thêm vài chi tiết: khoảng 20% sinh viên Mỹ đều thuộc gia đình nghèo hoặc dưới mức nghèo; 80% sinh viên phải tự làm thêm để kiếm tiền theo đuổi đại học và hơn 40% sinh viên là người ở độ tuổi 25 trở lên. Lý do đem lại sự phát triển của giáo dục đại học Mỹ chính là cơ chế và (phương pháp) tổ chức.
Nguyên tắc đầu tiên là vai trò hạn chế của chính phủ trung ương (tức chính phủ liên bang). Mỹ không hề có một kế hoạch chung cho mô hình đại học, theo cách như Pháp hoặc Đức. Hệ thống đại học Mỹ nhận kinh phí từ đủ thành phần, từ các công ty, tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo đến nhà từ thiện. Sân trường đại học Mỹ đầy hình ảnh và bóng dáng những nhà từ thiện tỉ phú như Ezra Cornell, Cornelius Vanderbilt, Johns Hopkins, John D. Rockefeller hoặc Bill Gates. Truyền thống đóng góp cho đại học tiếp tục duy trì đến nay…
Còn nữa, hệ thống giáo dục đại học Mỹ khuyến khích nghiên cứu đột phá. Không quốc gia nào có nhiều môn nghiên cứu như Mỹ. Điều này cho thấy tính cởi mở và năng động. Điển hình cho tính năng động là mô hình “đại học hai cấp”. Chỉ khoảng 100 trong 3.200 viện đại học Mỹ là trường đại học (chuyên lĩnh vực) nghiên cứu. Phần còn lại là đại học cộng đồng (ít tập trung nghiên cứu và chương trình đào tạo chủ yếu lý thuyết thường kéo dài hai năm). Sinh viên giỏi có thể học thêm khi đi từ đại học cộng đồng đến đại học nghiên cứu… Ấy vậy mà cũng có người “khó tính” còn chưa hài lòng. Viết trên Washington Times, Ben Wolfgang tác giả đã u sầu đặt tít bài là “Mỹ bắt đầu mất đi danh tiếng học thuật của mình”!
MẠNH KIM
1- Học sinh tiểu học Mỹ vừa học vừa chơi (BusinessInsider)
2- Hệ thống đại học Mỹ vẫn liên tục thu hút sinh viên nước ngoài (U.S. News and World Report)
 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *