Suốt mấy tuần vừa qua, dư luận xứ Việt sôi sùng sục phản bác đề xuất cải tiến chữ Việt- “công trình khoa học” của ông phó giáo sư tiến sĩ Bùi Hiền . Nhiều bài viết đã phân tích cặn kẽ cái sai lầm, bất hợp lý trong đề xuất “cải cách” ấy. Tác giả Tư Bến Nghé của Sài Gòn Nhỏ tuần trước cũng có bài viết “Thôi đi mấy tía” để đả phá chuyện này. Một tác giả quen thuộc khác của Sài Gòn Nhỏ là Mạnh Kim bằng cách rất nhẹ nhàng đã thủ thỉ trên trang cá nhân: Tôi yêu tiếng nước tôi. Bài viết tuyệt vời này đã được hơn bốn ngàn người tán thưởng và khoảng hai ngàn người chia sẻ lại. Tôi yêu tiếng nước tôi vốn là câu đầu tiên trong bản nhạc Tình Ca của nhạc sĩ Phạm Duy, câu ấy cũng là nhan đề bài viết cách đây vài năm của Trịnh Lữ, một dịch giả xuất thân từ một gia đình trí thức ở Hà Nội. Tôi nghĩ mình cần giới thiệu lại cho độc giả Sài Gòn Nhỏ, chí ít là để người Việt càng yêu mến tiếng Việt hơn. (Uyên Vũ)

Không còn nhớ ai là người đầu tiên dịch “Gone with the wind” thành “Cuốn theo chiều gió” nhưng vị nào dịch câu này hẳn nhiên là bậc thượng thừa về ngôn ngữ nói chung và rất giỏi tiếng Việt nói riêng. Ông Huỳnh Phan Anh cũng khắc tên mình vào bảng mạ vàng khi dịch “For whom the bell tolls” thành “Chuông nguyện hồn ai” (phải là “nguyện”, chứ không phải “gọi” – như các bản dịch sau 1975, nghe mới “đã” và mới đúng với ý như câu chuyện của tác phẩm Hemingway). Cụ Bùi Giáng cũng thuộc vào nhóm người “giáng thế” khi dịch “Terre des Hommes” (Vùng đất của người) thành “Cõi người ta”.
Cụ Phạm Duy là một bậc tài hoa xuất chúng nữa với các tác phẩm chuyển ngữ lời Việt. Ca khúc “The house of the rising sun” đã được cụ chuyển thành “Chiều vàng dưới mái nhà tranh”. So sánh từng câu từng từ trong các ca khúc chuyển ngữ của thiên tài Phạm Duy, không thể nói gì hơn ngoài sự kính phục tột bậc. Trong Love Story, ca khúc rất phổ biến Sài Gòn thập niên 1970 mà cụ Phạm chuyển ngữ, có những từ được diễn đạt mà chỉ những bậc thượng thừa tiếng Việt mới thể hiện nổi, chẳng hạn “this empty world” thành “cuộc đời vắng ngắt”; hoặc “wild imaginings” thành “mộng huyền mênh mang”…
Có một điểm chung giữa những bậc kỳ tài Phạm Duy, Bùi Giáng hoặc vô số văn sĩ, nhạc sĩ cùng thời với họ, là: “Tôi yêu tiếng nước tôi!”. Chỉ những người thật sự yêu quý tiếng nói của dân tộc mình mới biết cách làm đẹp ngôn ngữ. Họ nhảy múa với ngôn ngữ. Họ thăng hoa với ngôn ngữ. Họ bay bổng với ngôn ngữ. Sự cuồng nhiệt trong tình yêu ngôn ngữ của họ đã tạo ra một nền văn hóa trong đó tiếng Việt vượt qua cả khái niệm ngôn ngữ như là ký hiệu giao tiếp thuần túy mà vươn lên đến chóp đỉnh của một thứ trừu tượng hơn: linh hồn dân tộc. “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Tình yêu của họ với tiếng Việt đã làm đẹp tiếng mẹ đẻ, làm sang trọng tiếng mẹ đẻ, và cuối cùng làm nên một nền văn hóa đẹp đẽ.
Chỉ những giai đoạn tiếng Việt bay bổng thì nền văn hóa mới thăng hoa, hay là ngược lại, thật khó có thể nói chính xác. Nhưng, có thể đoan chắc rằng một nền văn hóa xuống cấp luôn đi đôi với việc ngôn ngữ và cách dùng ngôn ngữ xuống cấp. Nó bị dùng sai là một chuyện. Nó bị xem thường mới là điều đáng nói. Khi tiếng Việt không còn được tôn trọng, văn hóa và xã hội sẽ không còn được tôn trọng. Con người cũng không còn được tôn trọng. “Tiếng Việt còn, nước ta còn”. Nhưng tiếng Việt bầy hầy, như đang thấy trên báo chí hàng ngày, trong các ca khúc được hàng triệu người nghe, thì “nước ta” còn gì?
Đừng trông chờ ở những khẩu hiệu “giữ gìn tiếng Việt” hay “làm trong sáng tiếng Việt” hô hào chiếu lệ trong nền giáo dục hiện tại. Tiếng Việt đang bị hỏng không chỉ bởi các MC tung hứng bừa bãi với những câu chữ làm màu “cho sang”, như “điểm trang” thay vì phải nói cho đúng là “trang điểm”; không chỉ bởi các phát thanh viên truyền hình học nhau cách nói rập khuôn, hay các nhà báo viết bài không bao giờ xem lại lỗi chính tả; không chỉ bởi những cách dùng sai như “cặp đôi” hay “fan hâm mộ”; không chỉ bởi các từ ghép Hán-Việt vô nguyên tắc như “phượt thủ”… Nguồn gốc khiến tiếng Việt hư chính là từ giáo dục. Không ngôn ngữ nào có thể bay bổng trong một mô hình giáo dục giáo điều. Chẳng ai có thể sửa lại tiếng Việt với đà tuột dốc của nền giáo dục hiện nay. Muốn “làm trong sáng tiếng Việt”, hệ thống giáo dục phải tự làm trong sáng mình. Điều này sẽ chẳng bao giờ có, không bao giờ thành hiện thực, khi mà giáo dục đang nằm dưới bàn chân của những “chủ trương” và “đường lối”. Đừng mong chờ những thay đổi trong giáo dục. Sẽ chẳng có thay đổi tích cực gì cả. Tiếng Việt sẽ tiếp tục bị hành hạ và văn hóa sẽ tiếp tục bị tra tấn.
Dường như không ai có thể cứu tiếng Việt nhưng tiếng Việt có thể được cứu nếu mỗi người trong chúng ta cùng quay lại với con đường “tôi yêu tiếng nước tôi”. Tìm kiếm và đọc lại những quyển sách của một thời làm nên sự kỳ vĩ một nền văn hóa, như một cách thức tự giải độc khỏi những luồng khí đen đang bủa quanh, có thể được xem là một cách thức. Nhiều giá trị hiện bị mất đi đang nằm trong những quyển sách đó. Văn hóa sẽ đi lạc vĩnh viễn nếu chẳng có ai tìm. Con đường đi tìm văn hóa đã mất có thể sẽ giúp tìm lại ánh hào quang của tiếng Việt, và cuối cùng, dẫn đến việc nhìn lại sự cần thiết phải tôn trọng tiếng Việt.
Không người dân nào có thể thay đổi được hệ thống giáo dục hiện tại. Họ không có quyền hạn để làm điều đó. Tuy nhiên không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa để dung nạp một nền văn hóa khác với “hệ văn hóa” nhồi sọ và tuyên truyền. Cũng không ai có thể ngăn chặn sự chọn lựa đọc gì bên ngoài phạm vi những bài văn mẫu hay nên đọc gì trên những trang mạng xã hội. Đó là sự chọn lựa cần thiết, và cấp bách, để “tôi yêu tiếng nước tôi” có thể còn tồn tại và còn có cơ may truyền lại cho hậu sinh. (Mạnh Kim)

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi

Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi

Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…

Tôi đã thuộc mấy câu hát ấy từ hồi mới bốn năm tuổi, và vẫn gọi đấy là bài “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Người chị gái thân thiết nhất của tôi thường dạo bài ấy trên dương cầm, còn tôi thì cầm cuốn vở chép bài hát của chị, nhẩm hát theo. Ít lâu sau, chị được tuyển vào đoàn văn công trung ương để đánh đàn. Mấy tuần lễ chị đi Varsovie trong đoàn thanh niên sinh viên Việt Nam, cứ nhớ chị là tôi lại chui xuống gầm đàn, một mình ngồi hát thầm bài ấy cho tới khi hát được từ đầu đến cuối và mong đợi chị về để khoe. Ấy thế mà hôm về đến nhà, buổi tối chia quà cho các em xong, chị gọi riêng tôi mà rằng: “Em ơi, nhạc Phạm Duy bị cấm rồi, từ nay phải nhớ đừng để ai nghe thấy mình hát bài ấy nữa…”.

Suốt nửa thế kỷ sau đó, nhất là hơn hai chục năm tha hương, mỗi khi một mình với ký ức tuổi thơ, tôi lại thấy mình thầm hát “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…”. Và cùng với bài hát ấy là tiếng đàn thăm thẳm của chị, tuổi thơ tôi trở về. Tôi như nghe thấy tiếng mẹ gọi tìm khi tôi làm vỡ quả trứng gà nhà đẻ, sợ quá nấp vào đống gỗ và kẹt ở đấy, tưởng mình sẽ chết khô không thể nào ra. Tôi như nghe thật rõ ràng tiếng cha nhẹ nhàng khuyên bảo khi dắt tôi đi dạo trên hè phố vắng lặng, long lanh những tia nắng chiếu xuyên qua vòm lá đầy tiếng ve kêu, cha bảo: “Nghĩ gì, con cứ nói cho thật đúng cái ý của mình, thì sẽ thành người tử tế…”. Nhớ nhất là tiếng cha kể chuyện ru tôi ngủ trong khoang xe nhà đi về, đậu bên gốc hai cây đa cổ thụ ngoài sân, những Sơn Tinh – Thủy Tinh, Mỵ Châu – Trọng Thủy, sự tích trầu cau… Giọng cha trầm bổng về khuya hòa với tiếng mưa rơi trên mui xe, tiếng gió thổi khiến những cành la đà quệt ràn ràn vào ô cửa kính. Cho đến tận bây giờ, cha mẹ đã đi xa, mình cũng đã già, mà tôi vẫn nghe thấy giọng nói thân thương của những người thuở ấy. Tiếng của mẹ của cha. Bao nhiêu năm kiếm sống bằng tiếng ngoài, mà nhiều khi đi giữa đám “ngựa xe như nước áo quần như nêm” nơi xa xứ, tôi vẫn thấy một nỗi âm thầm thành tiếng trong lòng, rằng “tiếng người người nói, lòng mình mình nghe”.

Rồi tình cờ tôi dịch sách, chẳng sống được bằng nghề ấy, nhưng rất ngỡ ngàng khi thấy mọi người yêu quý những câu chữ bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Và còn ngỡ ngàng hơn khi thấy mình bắt đầu để ý đến mỗi lời mình nói, viết, dịch. Tiếng nói của mình bỗng như một thực thể tồn tại bên ngoài, gần như hữu hình. Lạ nữa, là thấy những từ ngữ, con chữ từ trong lòng mình mà ra cũng sống cả trong lòng của đồng bào mình. Tự nhiên, tôi bắt đầu đọc lại Truyện Kiều và những áng văn thơ của tiền nhân với một cảm xúc khác lạ, như lúc còn bé một mình đứng trước điện thờ Phật trong chùa của bác tôi, vừa quen thuộc, vừa xa vời, mà thật yên bình, đằm thắm.

Cách đây hai ba năm gì đó, tôi được mời đi nghe buổi hòa nhạc Những điều còn mãi, và mới biết rằng bài “Tôi yêu tiếng nước tôi” có tên thật là Tình ca. Sau hơn nửa thế kỷ, bài hát đã âm thầm sống với tôi nay lại được cất tiếng từ Nhà hát Lớn thân thuộc và xưa cũ. Tôi đã nghẹn ngào khi nghe Nguyên Thảo hát hôm đó. Có lẽ ngay lúc ấy chỉ là vì ký ức tràn về, vì giọng hát thật đẹp của cô ca sĩ người Đà Lạt, và cảm giác như được thở ra một hơi thật dài sau bao lâu nín nhịn – rằng bài hát yêu quý của tôi đã không còn bị cấm đoán nữa. Sau này, khi một mình nhớ lại những giây phút ấy, tôi mới hiểu thêm rằng sự nghẹn ngào của mình còn nhuốm màu hoài tiếc – hoài tiếc cái thế giới thơ ngây sơ khoáng, như cửa sông hoài tiếc ngọn nguồn nhỏ bé xa xôi của mình. Chỉ có điều, tôi vẫn cứ gọi ca khúc ấy là bài “Tôi yêu tiếng nước tôi”.
Nhưng “tiếng nước tôi” bây giờ thật khác với thời tôi còn bé. Ở mọi lĩnh vực, nó cất lên thật ào ạt, tinh xảo, pha nhiều tiếng ngoại quốc, và luôn có giọng trình diễn. Ngay cả tên người tên việc cũng ngày càng thấy chữ Tây chữ Tàu thay thế hoặc chen lẫn chữ ta. Cách nói cách viết biến đổi không ngừng và ngày càng nhanh từ khi ta nối mạng với thế giới. Những lối cười nói, than van, cạnh khóe ngày càng phong phú…

Tiếng Việt hay tiếng gì cũng đều như vậy mà thôi. Nhưng theo tôi, những yếu tố quyết định giá trị, hiệu quả và vẻ đẹp của ngôn ngữ nhất định còn phải bao gồm Tự do và Chân thực – có thể coi là điều kiện cần và đủ để linh hồn hiện hữu đúng với thiên chức của nó là khẳng định lý do tồn tại của nhân loại. Được tự do và chân thực diễn đạt tâm trí, tình cảm, ý chí với ý thức biết rõ mình là ai, thì tiếng nói của ta mới không còn rối loạn trong vũng lầy “nói zậy mà không phải zậy” như hiện nay.

Cũng phải nói rõ rằng tình trạng “nói zậy mà không phải zậy” chỉ là thiểu số. Còn thì “tiếng nước tôi” vẫn trong lành và ngày càng phong phú ở dòng tiếng Việt xã hội, có thể nghe được đọc được mà không cần giấy mực. Người dân muôn đời với những người con thông sáng nặng lòng với hồn dân tộc mới là nơi cư ngụ tiếng mẹ đẻ của chúng ta.” (Trích từ bài của Trịnh Lữ)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *