“Silent Night” hay “Đêm yên lành“ ra đời như thế nào?

Khi bài “Đêm yên lành” hay “Silent Night” được hát lên bằng hơn 100 ngôn ngữ và thổ ngữ tại mọi ngõ ngách của thế gian này trong những ngày lễ giáng sinh, có ai biết bài hát đã ra đời như thế nào?

Mùa Đông năm 1818, ông linh mục Joseph Mohr ở nhà thờ St. Nicolaus, làng Oberndorf, gần thành phố Salzburg, nước Áo, đã viết ra bài thơ tiếng Đức “Stille Nacht, heilige Nacht“ (Đêm yên lành, đêm thiêng liêng). Rồi ông nhờ ông nhạc công Franz Xavier Gruber, người đánh đàn organ (đại phong cầm) trong nhà thờ, phổ nhạc.

Bức tượng linh mục Joseph Mohr và ông nhạc công Franz Xavier Gruber tại Oberndorf.

Đêm Noel năm 1818, lần đầu tiên bài hát này được dàn đồng ca nhà thờ St. Nicolaus Oberndorf trình diễn. Hôm đó không may là chiếc đàn organ bị hỏng, người ta chỉ đệm bằng guitar, với lời gốc là:

“Stille Nacht, heilige Nacht! Alles schläft, einsam wacht, nur das traute, hochheilige Paar. Holder Knabe in lockigem Haar. Schlaf in himmlischer Ruh …”

Tôi tạm dịch là: Đêm yên lành, đêm thiêng liêng, mọi người đều ngủ yên, rồi cô đơn thức giấc. Chỉ vợ chồng trong trắng hạnh phúc, cùng chú bé tóc bông, ngủ yên trong yên tĩnh thiên đàng.

Nhiều nhà nghiên cứu cho là ông Mohr nêu hình ảnh chú bé tóc bông để nhớ đến những chú bé trong dàn đồng ca thiếu niên của nhà thờ. Ngày đó nhà thờ chỉ tuyển các thiếu niên vào các dàn đồng ca. Các dàn đồng ca nữ về sau này mới xuất hiện.

Nhưng năm 1992 ông Werner Keller, giáo viên về tôn giáo ở Munich có viết rằng :Với câu trước nói về cặp vợ chồng trong trắng (trinh tiết) và câu sau về cậu bé tóc bông (xoăn), ông Mohr muốn nhắc về Đức Mẹ Đồng Trinh Maria và Chúa Jesus.(2)

Bản nhạc Silent Night nguyên thủy

Sau này lời thơ được dịch sang tiếng Anh :

Silent night, holy night! All is calm, all is bright.Round yon Virgin, Mother and Child.Holy infant so tender and mild, Sleep in heavenly peace, Sleep in heavenly peace …

Bài hát lúc đầu gồm 6 đoạn, nay chỉ còn 3 đoạn và lời gốc tiếng Đức cũng được sửa nhiều lần. Sau buổi công diễn tạm bợ được ứng phó bằng đàn guitar đó, mấy ông thợ sửa đàn phong cầm từ Zillertal đến lắp cho nhà thờ St. Nicolaus một chiếc đàn mới và lễ Giáng sinh năm sau, 1819, bài hát đã tạo tiếng vang, lan ra nhiều vùng của nước Áo. Giáng sinh 1832, các nhạc công và dàn đồng ca làng Oberndorf đã chinh phục dân chúng Leipzig, thành phố lớn của nước Phổ láng giềng.

Vua Phổ Friedrich Wilhelm 4, một ông vua có tinh thần khai sáng, đã ngay lập tức trở thành fan của “Đêm yên lành“. Giáng sinh 1854, ông xin bản copy bài hát để đưa cho dàn nhạc của ông ở Berlin. Từ đó bài hát nhanh chóng tỏa ra khắp thế giới.

Nhà thờ St. Nicolaus, làng Oberndorf , nước Đức

Ngày nay ngôi làng nhỏ Oberndorf với 5500 dân bên bờ sông Salzach đã trở thành một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử. Mỗi năm hàng trăm ngàn khách du lịch đổ đến đây, không những chỉ để hưởng không khí trong lành và cảnh quan thiên nhiên vừa hùng vỹ vừa thơ mộng, mà còn để thăm quan nhà thờ lịch sử St. Nicolaus và nhà bảo tàng “Đêm yên lành“ (Stille-Nacht-Museum). Ở đó người ta có thể tìm lại không khí của đêm Noel 1818, với các nhạc cụ, với các di vật và tiểu sử các nhân vật liên quan đến bài hát bất hủ này.

Vào mùa Giáng sinh, khách du lịch có thể đến quảng trường “Đêm yên lành“ (Stille-Nacht-Platz) để thăm chợ Noel với các màn trình diễn văn nghệ, các trò chơi và các đám rước truyền thống của dân vùng Tyrol cũng như vùng Bavaria từ Đức kéo sang.

Nhà thờ St. Nicolaus bị nước lũ làm hỏng và năm 1900 người ta phải phá đi. Rồi dân làng phải mất rất nhiều thời gian để củng cố lại nền móng và khu đất xung quanh. Năm 1937, nhà thờ được xây lại đúng chỗ cũ. Người ta đã quyết tâm xây lại nhà thờ với sự khiêm tốn đúng như xưa, không ai có tư tưởng làm cho nó “hoành tráng“ hơn.

Hàng năm, vào lễ Giáng sinh, dân làng lại tụ họp và từ trong ngôi nhà thờ nhỏ bé đó, lời ca về hòa bình, về sự thánh thiện và tình yêu lại vang lên như cách đây 199 năm.

Xin tặng bài ca thánh thiện này cho những người mẹ, người cha mà tôi yêu quý đang nằm trong chốn lao tù.

Nghĩ về các doanh nhân khai sáng và quê hương Việt Nam

… Khi viết bài “Đêm yên lành“ tôi lần mò theo dấu vết của các tác giả Joseph Mohr và Franz Gruber và để rồi chợt nhận ra một điều: Những con người đơn giản như một ông phó tế hay một nhạc công vẫn có thể có một sự nghiệp mà cả thế giới phải ngưỡng mộ.

Hơn nữa, tôi còn thấy: Một dân tộc văn minh luôn biết đánh giá đúng công lao của trí thức. Những người bình dị nhưng có công lao, những tác phẩm nghệ thuật nhỏ đều được lưu giữ, nâng niu trong các nhà bảo tàng như căn nhà cổ của ông nhạc công Gruber.

Một dân tộc có văn hóa luôn coi trọng vai trò của các nhà văn hóa, của các danh nhân trong lịch sử dân tộc. Ví dụ ở Áo, hình ảnh của Mozart, Schubert, Haydn… luôn được đề cao hơn hình ảnh các chính trị gia như các vị thủ tướng Karl Renner và Leopold Figl, dù hai ông đã có công bảo vệ nền trung lập và độc lập của nước Áo trong suốt thời kỳ chiếm đóng của Hồng quân Liên Xô (1945-1955).

Chỉ riêng việc Ngân hàng Áo dùng chân dung của nhà văn Bertha von Suttner, người phụ nữ đầu tiên được giải thưởng Nobel về Hòa bình năm 1905 để in vào đồng tiền 1000 Schilling (mệnh giá cao nhất của tiền Áo), chứ không phải của bất cứ chính khách nào, đã làm cho tôi mơ ước một ngày tới được chiêm ngưỡng chân dung thi hào Nguyễn Du trên đồng tiền Việt Nam.

Chân dung nữ văn sỹ Bertha von Suttner trên tờ 1000 Schilling, đồng tiền mệnh giá cao nhất của nước Áo.

Nhà bảo tàng Gutenberg của Đức tri ân người phát minh ra máy in cách đây 5 thế kỷ làm tôi chạnh lòng khi thấy vắng bóng một nhà bảo tàng “Xưởng đúc súng Cao Thắng”, dù chỉ để nhắc đến một “kỹ sư không bằng cấp“ của phong trào Cần Vương, người đã chế tạo vũ khí “Fabrique au Vietnam“ để chống Pháp cách đây 150 năm.

Nền văn minh Trung Hoa tuy có đến hơn 5000 năm, khi người Bồ Đào Nha còn ăn lông ở lỗ, nhưng chỉ vì quá tôn sùng uy lực của các bậc vương giả, quan lại, chỉ vì khinh ghét trí thức, đốt sách vở của kẻ sỹ mà đi đến chỗ chìm đắm từ thế 17 đến 20. Kẻ khổng lồ 400 triệu dân đã run sợ trước mấy khẩu đại bác trên pháo hạm của nước Bồ Đào Nha 8 triệu dân.

Hội chợ Giáng Sinh tại Nurember, Đức nổi tiếng thế giới

Kỷ nguyên mới của nhân loại: kỷ nguyên thông tin, có diện mạo như hôm nay chính nhờ vào những phát minh mang tính cách mạng từ một vài cái garage trong số đó. Cách mạng ở đây không phải là những cuộc lật đổ, các cuộc chiến tranh đẫm máu, các đợt thanh trừng, mà là những thay đổi quan trọng trong cuộc sống của loài người, ví dụ:

– Khắp thế giới, lượng hàng hóa mua bán online, giao đến tận nhà đang làm cho việc mua bán ở chợ, ở cửa hàng đang suy giảm một cách bi thảm.

– Chủ nghĩa tư bản đang bị chao đảo bởi sự ra đời của đồng tiền ảo Bitcoin, của các loại nhà bank không hề có ghế bank cho khách như Paypal, các hãng taxi không sở hữu 1 chiếc xe taxi nào hết như Uber, của tập đoàn khách sạn lớn nhất hành tinh là Airbnb mà không hề sở hữu bất cứ một mét vuông phòng ốc nào.

– Người dân ở các nước XHCN đang mất dần thói quen nghe loa phường và đọc báo đảng. Họ bắt đầu cắm mặt vào màn hình tý hon cuả máy Smartphone để chat chit hàng giờ. Tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy hình ảnh nhiều người dân Cuba với thu nhập vài chục USD/tháng đang cắm cúi lướt web trên những máy Smartphone giá trị vài tháng lương.

Điều làm cho tôi thú vị là cuộc sống bình dị của những nhà phát minh khai sáng đó. Nhiều người trong số họ không hề có bằng đại học, nhưng họ cũng chẳng cần phải đi mua bằng ở đâu cả. Chính nhân loại đã trao tặng Bill Gate hay Mark Zuckerberg bằng giáo sư danh dự của trường nọ trường kia. Tuy đã bay cao như vậy, nhưng tất cả những doanh nhân khai sáng đó đều rất bám đất, đều có cuộc sống giản dị như tôi hay các bạn, ho đều rất tận tâm với người nghèo, người có số phận hẩm hiu.

Ở đây cần phải bỏ ngay một định kiến, coi những phát minh khai sáng đó đều đến từ các dân tộc thượng đẳng. Ông Trương Trọng Thi, nhà phát minh ra máy vi tính Micral vào năm 1972 tại Pháp là người Việt. Tập đoàn Yahoo ngày nay là con đẻ của Jerry Yang, một người Hoa nhập cư vào Mỹ, còn Google ra đời từ giấc mơ của chàng thanh niên Nga Sergey Michailovich Brin ở thung lũng Silicon.

Dân tộc nào cũng có những hạt giống tốt, vấn đề chỉ là chúng được gieo trồng ở mảnh đất nào mà thôi. Trong bài viết „Tự do và con người sáng tạo“, tôi đã mạo muội khẳng định: Chỉ có một xã hội tư do về tư tưởng mới có thể là mảnh đất cho những con người sáng tạo! Cũng vì vậy mà chàng thanh niên Nam Phi Elon Musk đã chọn nước Mỹ để làm nơi phát triển những ý tưởng của mình về xe hơi điện Tesla, về phi thuyền con thoi SpaceX.

Tôi cảm thấy hụt hẫng, khi hàng triệu thanh niên Việt Nam bỗng coi Jack Ma, ông chủ Alibaba là thần tượng của mình. Có lẽ ngoài mạng Weibo ở quê hương ông Ma, chỉ có mạng Việt ngữ mới có số lượng các câu nói của ông trùm Alibaba được trích dẫn nhiều như vậy.

Tôi không hề phủ nhận tài năng của ông Ma, kể cả của các đại gia Việt như anh em nhà Vũ VINCOM, của bầu Kiên, của bầu Đức Hoàng Anh Gia Lai v.v. Họ quản lý được cả một lượng tài sản khổng lồ như vậy, tất nhiên phải có những phẩm chất mà một người thường như tôi không bao giờ có. Những người biết cách làm giàu đó, nếu trong một xã hội văn minh, sẽ có một vị thế khác hẳn.

Nhưng hãy coi việc Jack Ma thành công bằng thương mại điện tử là dựa trên những ý tưởng của Ebay hoặc Amazon, tức là bản thân Ma được khai sáng, chứ đâu có phát minh ra? Thị phần của Alibaba tăng nhanh như vậy vì các đối thủ cạnh tranh khác đâu vào được thị trường 1.4 tỷ người? Đó là chưa kể đến sự tiếp tay bằng nhiều thủ đoạn khác nhau của giới chính trị Trung Hoa để biến Alibaba thành một vũ khí cạnh tranh toàn cầu cho chế độ toàn trị. Nếu không có những chống lưng đó thì Jack Ma vẫn chỉ là một đối thủ khiêm tốn trên thị trường quốc tế.

Khoảng cách xa vời vợi từ một doanh nhân khai sáng đến một doanh nhân bắt chước không thể đo bằng tiền.

Köln, Đức Quốc

FB Tho Nguyen