Song Thao

Con voi nhỏ dễ thương trên chùm chìa khóa đã theo tôi về tới Montreal. Như một kỷ niệm của một nơi đã trở thành thân thương. 

Khách sạn Pastell nằm ngay tại phố cổ Chiang Mai là một khách sạn nhỏ. Chỉ có ba tầng lầu, mới hoạt động được tám tháng, gây cho khách cảm tưởng như một chốn quê nhà. Các nhân viên khách sạn luôn ân cần, miệng lúc nào cũng nở nụ cười. Khách sạn đãi khách khiến họ có cảm tưởng như không phải ở khách sạn. Tòa nhà và các trang thiết bị trong các phòng đều mới tinh và rất hiện đại. Tuy không hỏi nhưng tôi có cảm tưởng chủ nhân là người Nhật qua cách xây cất và trang trí. Gỗ mộc đánh bóng được dùng tại mọi ngóc ngách tạo vẻ ấm cúng. Cách xếp đặt trong từng phòng có phong cách tân tiến, giản dị nhưng mỹ thuật.

Phía trước khách sạn Pastell, Chiangmai

Khách sạn có dọn bữa ăn sáng miễn phí. Thường thì ăn sáng free của khách sạn là loại continental breakfast lưa thưa ít đồ nguội và sang nhất cũng chỉ có trứng và hotdog nóng. Nhưng ăn sáng tại khách sạn Pastell khác xa. Các nhân viên phục vụ khách tại bàn. Mỗi khách được dọn một đĩa gồm trứng, bacon, xúc xích tùy theo chọn lựa. Ngoài ra còn cháo thịt nóng và các loại bánh mì và trái cây muốn dùng bao nhiêu cũng được. Nước cam được bưng tới tận bàn, cà phê loại ngon và trà khách có thể dùng theo ý thích. Đúng là một bữa ăn sáng thịnh soạn như tại nhà hàng.

Cách phục vụ của nhân viên rất khác mọi khách sạn khác. Họ ân cần một cách đáng mến. Khi chúng tôi rời khách sạn, họ ra tận xe, chắp tay tiễn biệt và hẹn gặp lại. Nếu còn trở lại Chiang Mai chắc tôi không thể không trở lại nơi đây. Như trở về nhà!

Tại Chiang Mai có hai loại chợ đặc biệt: chợ đêm và chợ nổi. Chợ đêm có loại chỉ họp vào cuối tuần, có loại họp búa xua, ngày nào cũng…chợ. Tôi đã đi cả hai loại chợ này. Chúng chẳng có chi khác nhau. Đại khái gồm các gian hàng ăn là chính và các gian hàng bán quần áo, đồ kỷ niệm và các đồ gia dụng khác. Có chợ lộ thiên và chợ có mái vòm. 

Chợ đêm Chiangmai (Ảnh Shutterstock)

Dân chúng coi bộ không đi chợ để mua mà để ăn. Các quán ăn đều đông nghẹt. Có một thứ mà các chợ chồm hổm bên lề đường không thấy có nhưng tại các chợ đêm thì nơi nào cũng có. Đó là hàng bán các thứ côn trùng nướng. Họ xâu thành từng xâu rất tiện vừa đi vừa ăn. Châu chấu, dế là chuyện thường. Ngày nhỏ tôi đã từng ăn qua. Nhưng bọ cạp và các loại bọ tôi không rõ tên cũng ê hề. Trông thấy ghê nhưng có những du khách người phương Tây cũng nhắm mắt thử cho biết. Tôi ít máu phiêu lưu nên chỉ trông thấy đã kính nhi viễn chi. 

Một du khách da trắng, không rõ quốc tịch, đã vừa nhăn vừa nhai, nói với tôi: “Đây là thứ thực phẩm tương lai của nhân loại!”. Ông này nói không sai nhưng thứ thực phẩm tương lai phải chế biến chứ không nguyên con nuốt trọng như vậy. Tại bảo tàng côn trùng Insectarium ở Montreal, tôi đã từng thấy có một máy bán các thực phẩm đóng bao được chế tạo bằng thịt côn trùng. Chúng được biến chế rất tinh vi và hợp khẩu vị. Hàng năm nơi đây còn tổ chức những bữa ăn côn trùng được chế biến thành pizza, mì và các loại món ăn khác. Sâu bọ ngày nay đã thành thực phẩm chống đói tại nhiều quốc gia trên thế giới. Sâu bọ chưa thể đánh bại được bò, heo, gà và các loại gia súc khác. Sâu bọ tại các chợ đêm chỉ là một món ăn…phiêu lưu cho các du khách thích của lạ.

Tại chợ đêm có nhiều nghệ sĩ mang các sản phẩm văn hóa của họ ra mại dzô. Tôi đã gặp một cô họa sĩ ngồi sáng tác và bán ngay tại chỗ các bưu thiếp và dây chìa khóa rất mỹ thuật. Tại một gian hàng bán ngọc và đá quý do một anh trung niên rất vui tính bán, tôi đã trò chuyện và bất ngờ được anh cho biết đã sang Việt Nam ở vài năm. Thoạt đầu tôi nghĩ anh theo đoàn quân Thái Lan đồng minh qua tham chiến tại Việt Nam nhưng với độ tuổi của anh, cuộc chiến xảy ra quá sớm. Anh cho biết anh là một thợ chạm gỗ và qua Việt Nam làm việc tại một ngôi chùa ở Nha Trang. Anh vui thích mở phôn tay khoe tôi những tấm hình anh chụp ở Nha Trang, chẳng phải chỉ chụp ở trong chùa! Ngôi chợ đêm này nằm sát một con lộ sầm uất và rộng mênh mông. Những mái vòm cao rộng tỏa ra bốn hướng. Lớ ngớ là lạc như chơi. Loanh quanh qua các sạp bán đồ, khi ra về, tôi đã lạc hướng. Dừng lại, định hướng, cố nhớ lại những lối vòng đã đi qua, lấy các sạp hàng làm điểm tựa, vậy mà phải một thời gian khá lâu tôi mới tìm được đúng hướng về.

Đi chợ nổi không vất vả như vậy. Xe chở tới một địa điểm bên sông, nơi bán vé thuê thuyền vào chợ nổi. Mỗi thuyền chứa được năm người. Thuyền cũng được trang hoàng rất hoa lá cành chẳng kém gì các xe tuk tuk. Mỗi mạng phải chi một ngàn baht cho một chuyến đi chợ sông nước dài một tiếng. 

Chợ nổi, Thái Lan

Thuyền men theo con lạch, hai bên bờ là những quán hàng. Lúc đầu lơ thơ một vài quán nằm cách xa nhau. Họ bán chủ yếu là các tranh ảnh, mũ mãng, tượng, quạt và các đồ kỷ niệm cho du khách. Hàng chợ nên tôi thấy chẳng có chút mỹ thuật nào. Tới một cửa hàng, thuyền ghé bến cho khách coi. Nếu có người mua, họ dừng lại. Nếu khách làm thinh, thuyền sẽ tự động tách ra đi tiếp. Gặp những khu chợ, thuyền sẽ đổ khách lên và chờ tới khi khách xuống đủ số mới đi tiếp. Cuối cùng, thuyền mới tới nơi đô hội. Thuyền bán chen lẫn thuyền mua. Họ ép sát nhau, nhiều khi đụng nhẹ nhau. Có thuyền máy nhưng cũng có thuyền chèo tay. 

Hàng bán thường là trái cây và các món ăn. Bánh trái, kem dừa, kem sầu riêng, chè cháo cũng chen vai thích cánh rao mời ầm ĩ. Gặp món ăn phải dùng tới chén bát, du khách cứ tự nhiên ăn, không cần vội vã. Chén bát sẽ được nhà thuyền trả lại sau. Cảnh kẹt thuyền cũng trầm trọng như cảnh kẹt xe trên đường phố. Họ lách rất tài. Thuyền nào cũng có lối thoát sau một hồi lạng lách. Đi chợ nổi là một thú vui hiếm có. Du khách trên thuyền, nhất là các du khách Tây phương trẻ tuổi, người nào cũng mặt mày rạng rỡ, giơ máy hình hay phôn tay chụp lia lịa. Người nào cũng muốn có một kỷ niệm của lối mua bán lạ lẫm này.

Rời sông nước, chúng tôi leo núi. Chiang Mai có ngọn núi Doi Inthanon cao nhất Thái Lan. Cao 2.565 thước trên mực nước biển. Trên độ cao này có dựng một tấm bảng trên có một dấu scan. Ai có điện thoại thông minh có thể scan dấu này để ra cái điều ta đã lên cao hết mức trên đất Thái Lan. Tôi dùng điện thoại scan ngay. Scan thành tích leo cao nhưng lòng xuống thấp hết mức. Vì thực ra tôi có leo chút nào đâu. Xe chạy vòng quanh con đường hình xoắn ốc quanh núi leo lên tới tận tấm bảng. Chỉ cần bước xuống xe và scan. Người ta toa rập nhau ăn gian. Tôi mang mặc cảm đồng lõa!

Trên ngọn núi này có một nơi mà du khách thường vãng lai. Đó là ngôi làng của người thiểu số Karen cổ dài. Khi tới, chúng tôi chạm vào một thực tế. Mỗi người phải mua vé vào cửa với giá 500 baht. Mua vé thì được nhưng chỉ coi mấy cái cổ dài làm chi mà hành hạ nhau tới 500 baht. Lúc đó nơi đây vắng tanh, không có bóng một xe chở du khách nào. Thấy chúng tôi lưỡng lự, bác tài cho biết có thể điều đình với giá 200 baht. Giá phải chăng vậy thì OK. Cô gái bán vé ngồi trơ trọi trong chiếc quầy nhỏ làm ngơ cho chúng tôi vào. Chẳng vé viếc chi. Vậy là họ toa rập với nhau chia số tiền của chúng tôi. Đây là cách làm ăn của các bác tài đón đưa du khách. Cũng phải có kẽ hở cho người ta làm ăn.

Đường lên núi gập ghềnh những bậc thang đẽo gọt bằng đất. Hơi khó đi nhưng trời không mưa, không trơn trượt. Trèo một quãng, chúng tôi bắt gặp một khu nhà lá xập xệ. Trong mỗi căn là một cửa hàng bán các sản phẩm của bộ lạc. Người bán toàn là các bà các cô cổ đeo một chuỗi vòng cao nghều nghệu. Trên cổ tay, cổ chân, đầu gối cũng toòng teng những chiếc vòng màu vàng chóe. Họ không phải là bộ lạc sinh sống tại Thái mà trước đây định cư tại Miến Điện. Trong hai thập niên 1980 và 1990, họ bị chính phủ Miến Điện đuổi ra khỏi nước và chạy tới Chiang Mai. 

Hiện nay, tại tòa án quốc tế La Haye, đang xử vụ nước Gambia, được sự ủy thác của 57 thành viên Tổ Chức Hợp Tác Hồi Giáo, kiện chính phủ Miến Điện vi phạm công ước chống diệt chủng nhắm vào người Rohingya. Bà Aung San Suu Kyi, một người đã từng được trao giải Nobel Hòa Bình, hiện là người đứng đầu chính phủ Miến Điện trên thực tế, đã phải tới La Haye, Hòa Lan, bèo nhèo như một tấm giẻ rách, để chống đỡ cho cuộc diệt chủng. Không biết những người Ragan phải bỏ bản làng qua sinh sống tại Thái trước mặt tôi đây có phải là những nạn nhân của cuộc săn đuổi diệt chủng này không. Xa bản làng bên Miến Điện, họ vẫn giữ chế độ mẫu hệ và phụ nữ vẫn mang những chiếc vòng cao cổ.

Tất cả các bé gái từ 5 tuổi đều phải bắt đầu mang vòng bằng đồng trên cổ. Cứ mỗi chu kỳ 4 năm, số những chiếc vòng trên cổ lại được thêm vào. Vòng nọ chồng lên vòng kia khiến chiếc cổ ngày càng phải dài ra. Khi đã đeo vòng, cổ của các bé gái không bao giờ được rời khỏi vòng. Họ quan niệm cổ càng dài, vẻ đẹp của người phụ nữ càng tăng thêm.

Cô người Dran đeo vòng cao cổ dễ thương.

Cô gái trong cửa hàng ngay đầu đường nơi chúng tôi vừa trèo lên là một cô gái rất xinh xắn. Trông là có cảm tình ngay. Mọi người xúm vào vừa mua hàng vừa xin chụp hình với cô. Cô sẵn sàng đứng chụp dù với phái nam. Tôi cũng ghé mặt vào chụp sau khi mua một tượng gỗ người đàn bà với những chiếc vòng cổ. Cô nói tiếng Anh được. Tôi hỏi cô học tiếng Anh ở đâu, cô nở nụ cười tươi cho biết chẳng học ở đâu cả. Bán hàng cho du khách lâu ngày tự nhiên biết nói. Kể ra cô cũng thông minh. Tôi lân la hỏi và được biết sức nặng của chuỗi vòng cô mang trên cổ nặng tới 2 kí. Cô chỉ vào đống vòng trên chiếc sạp và cho biết cô sắp mang thêm cho đủ nặng tới 3 kí. Cô cũng cho biết là không bao giờ được cởi vòng ra kể cả khi ngủ. Cấn cái là cái chắc. Vậy mà cô có một bé gái khoảng 3 tuổi đang chơi bên cạnh. Cô cho biết là nhìn vào số vòng trên cổ người ta có thể biết số tuổi của người đàn bà đó. Tôi nhìn vào những chiếc vòng trên cổ của cô nhưng chịu không đoán được niên kỷ của người đẹp. Cô nói ngay, không một chút che giấu, là cô đã 32 tuổi. Trông cô trẻ hơn tuổi nhiều.

Gian hàng của cô, cũng như những gian hàng khác, gồm những chiếc áo, khăn choàng, túi vải làm bằng thứ vải do chính họ dệt tại chỗ. Cô gái ngồi dệt cho tôi chụp hình. Khung dệt bằng gỗ rất giản dị. Chất lượng hàng ở đây tốt hơn hàng bán tại các chợ đêm nhiều.

Nấu nước pha cà phê Somsak.

Rảo quanh làng, tôi ngửi thấy mùi cà phê thơm phức tỏa ra từ một túp lều lụp xụp. Tôi tò mò ghé vào. Trước cửa có tấm bảng bằng chữ Thái nhưng cũng có một hàng tiếng Anh: Coffee by Somsak. Tôi bước vào và thấy ngay một cảnh đã từ lâu không thấy. Một người đản ông đang dùng chiếc ống tre thổi cho lửa bùng lên dưới một ấm đun nước đen kịt. Bên cạnh chiếc bếp bằng kiềng ba chân còn để hai chiếc ấm móp méo khác lấy hơi nóng. Trên chiếc bàn gỗ bên cạnh là chỗ pha cà phê bằng vợt. Như cà phê bí tất của Sài Gòn xưa. Một vài ly cà phê được để sẵn mời khách nếm thử. Tôi với tay lấy một ly. Cà phê khá đậm, có mùi khét nhưng mang vị rất lạ. Thứ cà phê này được trồng và rang ngay tại chỗ. Từng bao cà phê được để sẵn cho khách mua. Khách lúc đó gồm phần lớn là người Tây phương. Nhưng cũng có một ông người Việt. Hỏi ra mới biết ông từ Hà Nội qua du lịch Thái.

Tại Bangkok, dân chúng coi bộ cũng mê chơi xổ số như dân Việt ngày nay. Trên con lộ dẫn tới Hoàng cung, tôi thấy một chợ xổ số trên lề đường. Cả trăm quầy bán vé số, bày ra nhiều loại vé. Có vé chỉ 2 baht nhưng cũng có vé tới 50 baht. Người bán người mua tấp nập. Không hiểu sao họ có nhiều loại xổ số như vậy. Chẳng biết có phải họ cũng có những loại xổ số của mỗi tỉnh thành như bên Việt Nam không. Những sạp xổ số có lẽ là những địa điểm được phép bán chính thức. Tại các gốc cây bên cạnh sạp, tôi thấy từng toán người ngồi bệt trên lề đường. Mỗi người đều có những chiếc túi đầy nhóc vé số. Họ thậm thụt mở ra đóng lại. Người mua người bán rầm rì bên cạnh nhau. Họ di chuyển khi có cảnh sát tới.

Cảnh sát Bangkok khá hiền hòa. Họ cũng dẹp những xe bán hàng trên lề đường nhưng cách dẹp của họ rất nhẹ nhàng. Trong một lần tôi đứng mua nước mía của một xe bán đồ giải khát và trái cây, cảnh sát tới. Anh bán hàng vẫn tiếp tục bán cho khách. Viên cảnh sát đứng bên cạnh nhỏ nhẹ bảo anh rời đi. Anh gật đầu nhưng vẫn tiếp tục bán. Khi hết khách anh mới tuân lệnh.

Một vỉa hè khu phố cũ ở Bangkok

Dân Thái rất hiền hòa. Có lẽ đây là đất Phật nên con người cũng rất…Phật. Họ kính trọng các tu sĩ. Tôi đã thấy có những đoàn các vị sư đi khất thực được dân quỳ dâng thức ăn rất thành kính. Trong giao tiếp, họ khá thật thà. Tôi nhiều khi không quen với đồng baht nên có khi trả tiền, tôi đưa nguyên xấp tiền cho họ lấy. Vậy mà họ không bao giờ lấy dư. Có khi tôi trả tiền lớ quớ đưa lộn, họ trả lại với nụ cười.

Tiền của Thái tính bằng baht. Trước ngày đi, tôi đổi một số tiền tại Montreal. Một đô Canada được 21 baht. Khi đổi thêm ở Bangkok, một đô được hơn 22 baht. Đổi tiền ở Thái dễ dàng hơn tại nhiều nước khác. Chỗ đổi tiền ê hề. Ngay trước khách sạn tôi ở cũng có quầy đổi tiền. Trong các shopping mall, mỗi tầng lầu đều có quầy đổi tiền. Thường khi đổi, du khách phải đưa thông hành. Có nơi họ chỉ coi nhưng cũng có nơi họ làm photocopy lưu giữ lại. Quầy đổi tiền thường là của các ngân hàng. Mỗi nơi một khác. Một lần đang mua sắm ở shopping mall MBK, tôi hết tiền. Chạy ra quầy đổi, tôi không mang theo thông hành. Họ không đổi nhưng chỉ cho tôi lên tầng khác, chỉ cần đưa bằng lái xe cũng được. Theo lời chỉ dẫn, tôi tới và xuất trình bằng lái xe, họ đổi ngay. Hí hửng như được kẹo! Nhưng khi lên tầng lầu khác để ăn, một ông bạn cho biết vừa đổi tiền nơi quầy cạnh food court, chẳng cần giấy tờ chi, chỉ đưa tiền ra là họ đổi. Cục kẹo của tôi bỗng hết ngọt!

Những ngày đi chơi là thời gian hưởng hương vị ngọt ngào của cuộc sống. Tới Thái Lan tôi cảm được vị ngọt thấm đậm nhất. Ngọt từ trái cây qua chè Thái. Nhưng ngọt hơn cả có lẽ là tình người nơi đất Phật. Rời Thái, vẫn còn bám theo tôi ánh mắt của cô gái người Dran, cái thân tình của cô gái nơi khách sạn Pastell ở Chiang Mai và nhất là cái khép nép của cô gái Thái bán hàng quỳ trước tủ kính cầu nguyện vào một buổi sáng tinh mơ, khi cửa hàng vừa mở.

(Hết)

Song Thao 12/2019Website: www.songthao.com