Bé Tienne sáu tuổi, năm 2017 cùng gia đình về thăm quê ngoại ở Kim Phát, Buôn Ma Thuột. Đã 17 năm rồi mới gặp lại những người thân yêu tha hương, nhà ngoại ngày nào cũng thết đãi tưng bừng của ngon vật lạ: heo rừng, măng nhập từ Tây Bắc, gà trống thiến thả vườn, lòng heo tơ…

Bé Tienne, dân Mỹ, nhưng vẫn có gien “ghiền nước mắm”.

Vậy mà bé Tienne ngả bên lòng mẹ trong bữa cơm nũng nịu lơ lớ: “con an com nươc mÁm”. Cả nhà ngoại cười vang xóm, kinh ngạc, sững sờ trước con “bé Mỹ” ăn nước mắm!

Đôi mắt bé Tienne chán ngán, lắc đầu trước mâm cỗ và chén ngon lành bát cơm to chan “nước mắm đồng trinh”. Ba bé Tienne, ông Việt phấn khích: hình như nước mắm, mắm tôm… món ăn người Việt mình nó đã ngấm vào máu rồi, nó quyện cả vào gien đời con cháu nữa; thèm lắm, không sao dứt được! “Ai sùng tín cái gì không biết, chứ tôi thì nước mắm muôn năm!”, ông Việt tâm sự, làm hãng của Mỹ mấy chục năm rồi, “điều đau khổ nhất với tôi là chuyện ăn uống khi phải đi công tác xa dài ngày ở tiểu bang khác”. Đồ Mỹ chỉ ăn cho vui thôi, chớ không thể thay thế như cơm bữa của người Việt được. Nó chỉ là tí son tí phấn thôi, chớ không thể là môi má người con gái quê nhà được!

Người có linh hồn ăn uống

Công tác xong, trên xe từ sân bay về nhà, ông Việt luôn nhớ gọi điện cho vợ hỏi xem nhà có món gì như một niềm hạnh phúc, ước ao thèm khát mà có được. Bà Phương, vợ ông kể: đơn giản lắm, rẻ tiền nữa; những lúc vậy “Tôi chỉ báo sơ sơ là ổng khoái chí rồi”: cà pháo mắm tôm, canh rau đay nấu tôm khô, nem thính. Nem thính kiểu người Bắc xa lắc xa lơ là thịt heo có da luộc thái mỏng trộn với tỏi băm và thính. Thính cất công một chút: rang gạo nếp thật đều, đúng lửa, đúng hạn, xay mịn hay giã cối; khi đó thính mới thơm và bùi. Món này làm say sưa bao vị giác ở chỗ chọn các loại lá cuốn nem như lá sung, lá cóc, ổi, chùm ruột mới đúng điệu, và chấm tương bần hay nước mắm trơn dằm trái ớt. Bằng không, có thể cuốn lá tía tô, dấp cá, cải bẹ xanh… cũng đặng, nhưng vậy chưa phải là người có “linh hồn ăn uống” – tầm cao hơn người có “tâm hồn ăn uống”!

Bởi ở xứ Dallas, Texas này trồng những loại cây kể trên phải trồng trong chậu đặt trên bốn bánh xe rùa, sáu tháng thu – đông kéo vào nhà sưởi ấm; để gần cửa kính để đón tí ít ánh sáng trời vốn khan hiếm, hoặc phải mở đèn loại mạnh cho cây hấp sáng. Sáu tháng xuân – hạ “lái cây” ra vườn lại cho hoa lá tung tẩy với tự nhiên cùng tưới tắm, bón phân, tỉa cành.

Người có linh hồn ăn uống như ông Việt không những cây ổi, cóc, chùm ruột, sung… chất đầy nhà từ phòng khách đến phòng học; mà còn bông thiên lý, lá cẩm, ớt hiểm, húng quế… đều được trú đông như một sinh linh thời đại. Chưa kể, nhà ông Việt có đến ba tủ lạnh to đùng mà ngăn đông luôn chật cứng, và ở đó không thiếu rau đay, muống, mồng tơi; các loại lá sung, cóc, ổi, chùm ruột… Lá rau bỏ vào bao nilông vít kín trữ ở ngăn đông, vài tháng sau mang ra nấu hay ăn sống vẫn xanh lòng xanh nước như mới hái.

Đám bạn bè người Mỹ nghe ông Việt kể lể chuyện nuôi dưỡng cây ăn lá quả như những thành viên trong gia đình; họ trố mắt… làm lạ. Michael đùa: “thay vì vậy, mầy nuôi con bồ nhí có phải lợi hơn không?” Trong những bữa cơm trưa, Michael thường được ông Việt cho ăn món tàu hủ nhồi thịt xốt cà, món Michael say mê. “Ăn món Việt phải đúng cách nấu nướng”, ông Việt chỉ cho Michael tiếp, “tàu hủ nhồi thịt mà mày thích đó” khá nhiều nguyên liệu để làm. Nào thịt xay, nấm mèo, bún tàu, hành tiêu tỏi ớt, nước mắm, cà chua; rồi tàu hủ loại trắng tươi xẻ ra nhồi vào các thứ trên đem hấp cho chín tới thôi, tiếp sau chiên sơ cho vàng và xốt cà. Tàu hủ chiên sẵn nhồi thịt không thể ngon bằng, vì dai, xảm, mất vị béo của đậu hủ. Nghe xong, Michael chặc lưỡi: “Vợ tao có học được chăng nữa, đến cuối đời không biết bả có nấu cho tao không; khó quá!” Vậy rồi như một khế ước, hôm nào có món tàu hủ nhồi thịt, ông bà Việt luôn dành ra bốn miếng cho Michael. Đổi lại Michael mua hai ly cà phê Starbucks trả lễ – thứ bà Phương yêu thích – dù bà đã uống sâu uống đậm bao loại cà phê xứ Ban Mê.

Muôn năm rót mắm vào người

Tôi may mắn sống trong nhà ông bà Việt – Phương từ khi sang định cư ở Mỹ, và chỉ may mắn có một điều lớn nhất là được “nuôi sống” bằng những bữa cơm thuần Việt, nếu không có nó thì quê hương đã vơi mất bao phần trong tôi. Năm ngoái, một hôm đi chợ Saigon Mall, tôi ngạc nhiên quá sức ở quầy cá tươi có bày chừng tám ký cá mối (người miền Trung gọi cá thởn). Cứ tưởng con cá mối chỉ có ở quê tôi sao lại xuất hiện ở đất trời này! Ký ức sống lại: con cá xưa kia ở thập niên 1960 – 1970 thị xã Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận, chỉ có giới bình dân, nhà nghèo mới ăn, hôm nào nhà ghe trúng mẻ lưới, mẹ tôi thường mua nó trên những rổ bành về đánh vảy làm ruột sạch; lớp kho, lớp chiên sả ớt, lớp phần nhiều nạo thịt làm chả. Thao tác giã cối làm chả cá mối là tôi và người anh đảm trách, mỗi người một chày nhịp nhàng giã xuống cối như người trên sóc, mồ hôi xứ “Rang” lã chã theo tiết điệu Bom Bo ấy cho đến khi mẹ vẹt một miếng chả vo vo đo độ dẻo dai… mới thôi. Sau này, phải sang đến thế kỷ 21 người ta mới “phát hiện” chả cá mối là loại chả thuộc hàng top, ngon hơn cả chả cá thu! Có chăng, cái khó ló cái khôn hay cái ngon, cái tuyệt, cái phúc hạnh chưa chắc người giàu có được – bởi cái đơn sơ bình dị. Tám ký cá mối hôm đó, tôi mua sạch chợ về cũng ướp sả chiên và kho trữ ăn cả nửa tháng chưa hết phải đem cho bè bạn, nhưng sự mãn nguyện này là kỷ niệm lớn đời tôi.

Tháng 10/2019 vừa qua, tôi về thăm quê hương và rủ rê những năm anh chị em xuống quê nhà người bạn ở Bến Tre chơi. Sáu giờ rưỡi sáng mọi người đã ra chợ xã Thành Triệu, huyện Châu Thành, cách nhà chừng 300 mét lùng sục sản vật nhà quê. Hôm ấy, “chiến lợi phẩm” là nửa ký cá linh và bốn con cá trê vàng bắt trong tự nhiên – thật tuyệt vời! Chợ không có nhiều hơn để thoả mãn tâm tư, ký ức và hương vị cho thực khách.

Quý hơn, trong chúng tôi có hai người từng tốt nghiệp nữ công gia chánh trường Sư phạm kỹ thuật Sài Gòn, Thủ Đức vào cuối thập niên 1970. Hai bếp sĩ này xắn tay vào bếp, canh chua cá linh và cá trê nướng dằm mắm gừng, trời ơi hương thơm bay bổng trên bàn ăn. Chao ôi, cái ngon không thể diễn bằng lời! Canh chua cá linh bằng trái khế, giá, bạc hà, nêm nước mắm ủ chượp, nó thanh tao làm sao; cá linh ngọt mềm, nhân nhẩn; tất cả như làm sống dậy, tràn lên một mùa nước nổi đồng bằng Nam bộ. Chạnh nghĩ, nếu không có nước mắm thì con cá trê hay nhiều thứ cá và bao món khác sẽ không thành hình, không nên thức ăn. Quả là, chỉ có tỏi, gừng, tí đường và nước mắm mà làm cho con cá trê lên hàng “khanh tướng” trong ẩm thực. Nghiệm xem, mỗi ngày người Việt chúng ta rót bao nhiêu giọt nước mắm vào cơ thể? Và muôn ngày, muôn tuần, muôn tháng, muôn năm như thế thì nó đã hoá thành xương thịt của ta rồi.

Mới ngày đầu tháng 11/2019, ngày lễ các Thánh, trước khi viết bài này, bà Phương nấu món Ý spaghetti đãi gia đình, ăn khá lạ và ngon. Bà nói, “em nấu với nước mắm đó, spaghetti Việt Nam mà; em không theo gu Ý, gu Mỹ gì cả, vì nó khô xảm và nhạt nhẽo. Bác ăn thấy được không?”. Tôi nhắc lại lời tự tình của ông Việt, “nước mắm muôn năm!”.

 Thomas Nguyen (theo TGHN)