Song Thao

Đặc sản của Hawaii còn có Honolulu Cookies. Thấy thiên hạ chen chúc lao xao đầy cửa tiệm, tôi cũng thử vào coi. Hỏi một bà khách, được biết đây là loại bánh cookies đặc biệt của Honolulu. Thấy trên bàn nơi góc tiệm có để một dàn lọ trong có những miếng bánh nhỏ xíu cho khách nếm thử, tôi cũng thử. Khác với các loại bánh thông thường khác thiệt. Bảo khác làm sao, tôi không mô tả được. Chỉ biết là ngon, vừa có vị ngọt, vừa có vị mặn, lại thêm vị thơm của từng loại bánh. Có bánh chocolate, cà phê, cam, thơm. Cứ đếm khoảng hai chục lọ cho ăn thử thì biết bánh có bao nhiêu mùi vị. Tiệm bày la liệt các hộp bánh trình bày rất đẹp để làm quà tặng. Thứ to thứ nhỏ, hình thái, màu sắc rất bắt mắt. Không mua sẽ tiếc. Nhà hàng lại còn chơi chiêu khuyến mãi, mua từ 50 đô trở lên được tặng một hộp bánh nhỏ. Vậy là khách nào cũng khệ nệ bưng vác. Bữa đó tôi cũng mỏi tay!

Cà phê cũng có thứ đặc biệt của Hawaii. Đó là cà phê Kona. Cũng nhiều loại lắm. Không biết sao Hawaii thích làm đau đầu du khách thế không biết!  Sơ sơ có thể kể ra: Keala, Volcania, Koa. Là đặc sản nên giá cũng đặc biệt. Khoảng 50 đô một gói 100 gram. Cà phê Kona được trồng ở vùng Kona trên hòn đảo lớn nhất của Hawaii. Khí hậu nơi đây rất hài hòa, nắng mưa đồng đều. Cà phê được trồng trên những sườn núi lửa như Hualalai và Mauna Loa. Nơi đây có loại đất đen rất phì nhiêu, nhiều khoáng chất. Đã đụng tới cà phê Kona thì Starbucks bị làm lơ ngay. Thứ cà phê…vua này chỉ được bày bán tại các tiệm cà phê loại xịn. Tôi uống loại cà phê Hawaii này tại tiệm Honolulu Coffee ngay bên khuôn viên khách sạn Moana. Vị rất lạ. Hơi có mùi đất, nằng nặng nhưng rất thơm và đằm thắm.

Khách sạn đầu tiên của Honolulu

Khách sạn Moana là khách sạn đầu tiên của vùng Waikiki. Nó nằm trên đường nào, đừng bắt tôi nhớ. Vì tên đường ở Honolulu phần lớn là tên địa phương, đọc còn trẹo họng không ra, nói chi tới nhớ. Loanh quanh bên khách sạn tôi ở có các đường: Kapiolani, Kalãkaua, Mahukona, Kona, Makaloa, Kalauokalan. Đừng bắt tội tôi thuộc các tên đường, tội nghiệp! Nếu cần nhớ thì chỉ hai chữ địa phương là đủ xài: aloha là chào mừng và mahalo là cám ơn. Ngay trước khách sạn có bảng đá ghi “tiểu sử”. Được khai trương vào ngày 11 tháng Ba năm 1901, khách sạn được dân chúng ưu ái gọi là “Đệ Nhất Phu Nhân của Waikiki” (The First Lady of Waikiki). Khi đó khách sạn chỉ có 75 phòng, giá thuê là 1 đô rưỡi một đêm.  Năm 1932, khách sạn được bán với giá 1 triệu 600 ngàn đô. Năm 1959, tổ hợp Sheraton mua lại, giá cả không được tiết lộ. Cũng năm này, Hawaii chính thức trở thành một tiểu bang của Hoa Kỳ.

Vào bên trong khách sạn, tôi thấy họ vẫn giữ được những kiến trúc cổ với những hàng cột cao vút và những cầu thang vòng rất đẹp. Quá khứ huy hoàng vẫn còn hiện diện tới ngày nay. Phía sau khách sạn là khu bãi biển dành riêng cho khách trọ. Có bãi tắm và khu chơi ván trượt sóng. 

Bãi biển tại Hawaii là thứ thừa thãi. Lái xe một vòng đi dọc theo bờ biển, hình như chỗ nào cũng có nơi cho người ta xuống tắm. Gặp một người thích tắm, chắc quần áo lúc nào cũng ướt nhẹp! Một bữa trời mưa, tôi tới một bãi biển khá lạ. Họ làm một cái đập ngăn sóng, chỉ chừa một khoảng nhỏ cho nước lưu thông. Tắm ở đây như tắm trong hồ nước mặn, an toàn trăm phần trăm. Các tay trượt sóng chắc chê chỗ này nhà quê! 

Lướt sóng tại Fort DeRussy Beach

Tới một nơi khác, bãi Fort DeRussy Beach lại khác, có sóng ào ào. Đây là thiên đàng của những tay bay lượn trên sóng. Nhìn thấy những bóng người nhỏ xíu lặn hụp với sóng, khi trồi lên khi mất hút trong sóng, tôi đứng trên bãi mà thấy rùng mình. Hà Bá đâu có hiền lành chi mà giỡn mặt! Sóng ào ào bên tai, những người thân của các tay cưỡi sóng đứng trên bờ cát, mặc quần áo tắm mà người khô khốc, ngồi nhìn ra khơi. Tôi không biết tâm trạng họ ra sao. Chắc cũng thót tim thót bụng. Vậy mà hàng trăm con người nhỏ li ti đang hì hục nhồi sóng, lại có thêm hàng chục người hăm hở vác bàn trượt tiếp tục ra nhập bọn.

Tắm biển phải có sóng mới thú vị. Có một lần tôi tắm nguyên một ngày tại bãi tắm Waimea. Buổi sáng biển rất hiền hòa, tắm biển như tắm sông. Buổi chiều, từng đợt sóng xô nhau vào bãi. Càng lúc sóng càng tăng sức mạnh.  Nhảy sóng theo mỗi đợt sóng đánh vào thật thú vị. Bỗng nhiên tôi nhớ tới những lần tắm ở Vũng Tàu ngày xưa. Bãi Ô Quắm cũng có những đợt sóng tương tự. Kỷ niệm dội về lãng nhách khiến nao nao lòng. Bãi tắm Waimea là một bãi tắm nguyên sinh. Sinh vật được bảo vệ. Không biết có phải vì vậy mà mỗi du khách tới tắm phải mua vé 7 đô rưỡi không. Tôi dùng chữ “du khách” để phân biệt rành rọt. Dân địa phương thì cứ thong thả tới tắm, không phải trả một xu nào. 

Trước khi xuống bãi, dân tắm biển, dù là du khách hay dân địa phương, đều phải vào coi một đoạn phim dài chừng chục phút. Ngoài phần trình bày lai lịch bãi tắm, phần quan trọng là những điều khách tắm biển phải tôn trọng. Không được chạm tay chân vào các phiến đá rong rêu vì đây là nguồn thực phẩm của sinh vật dưới biển. Không được chạm vào cá và các sinh vật khác. Chỉ ngắm thôi. Dụng cụ để ngắm là những mặt nạ hoặc các mắt kính có gắn ống thở. Vậy là bữa đó tôi được mục kích cảnh tượng hàng loạt chiếc mông chổng lên trời, mặt áp xuống mặt nước để coi rùa và cá. Người ta cho biết có khi đứng tắm cũng có cá lội quanh mình. Bữa đó chẳng có chú cá nào lội bên tôi. Tài liệu trong phim cho biết bãi Waimea là nơi cá voi lưng gù (humpback whale) tới giao phối, sanh nở và nuôi con. Mỗi năm, từ tháng Mười Một đến tháng Năm, một nửa số cá voi lưng gù của biển Bắc Thái Bình Dương vượt ba ngàn dặm tới vùng nước ấm Hawaii. Thời gian này, dân tắm biển có thể thấy cá voi bơi gần và làm xiếc rất bắt mắt. Tới mùa Xuân và mùa Hạ, cá quay trở về miền biển lạnh ở Alaska và vài vùng khác trên miền Bắc.

Bãi tắm Waikiki nằm ngay giữa phố phường được nhiều du khách chiếu cố nhất. Có lẽ vì tiện  lợi. Từ nơi tôi ở, chỉ mất vài phút đi bộ qua những phố phường san sát những cửa hàng bán buôn tấp nập là tới biển. Bãi tắm này đông đảo nhất. Kẻ ngồi người nằm san sát nhau như bầy cá vừa từ dưới biển lội lên. Trong bầy cá tạp nhạp đó có những nàng tiên cá. Không biết đây có phải là lý do khiến bãi đông người không. Muốn tư cách hơn thì thay vì trải khăn nằm trên cát, người ta có thể thuê ghế và dù. Giá cũng OK. Một chiếc dù và hai ghế trong hai tiếng đồng hồ chỉ tốn 20 đô. Tôi có cái thú ngâm người trong nước, nhìn lên phố phường rầm rập người qua lại, vừa xa cách vừa gần gũi.  Tắm biển mà tầm mắt chẳng rời các giai nhân đi shopping. Nói như Kim Thánh Thán: chẳng là một điều khoái lắm ru!

ABC Stores

Phố phường ngay cạnh biển san sát các cửa hàng, sang có, hèn có. Tiệm tạp hóa ABC là một tiệm không biết phải liệt vào hạng sang hay hèn. Nó như con tắc kè. Nằm ở đường sang, bán hàng sang. Nằm ở đường hèn, bán hàng hèn. Nhưng chắc chuỗi cửa tiệm này giầu nhờ…hèn. Đâu đâu cũng thấy ABC. Từ khách sạn tôi ở bước ra, quẹo hướng nào cũng ABC. Chỉ đi vài trăm thước là gần như chắc chắn sẽ đụng ABC. Anh hướng dẫn viên trên chiếc xe buýt đưa tôi tới lễ hội luau đã tếu khi xe bị kẹt đường: “Honolulu bị kẹt đường liên miên vì có nhiều tiệm ABC quá!”. Tôi đôi khi cũng thấy nhàm với ABC nên tự hỏi tại sao không có DEF cạnh tranh nhỉ! Nói vậy chứ đây là một cửa hàng tôi lui tới ngày một. Vì nó có đủ mặt hàng. Thiếu bất cứ thứ gì, cứ ABC là có nhiều cơ may tìm thấy được. Với giá nới hơn những chỗ khác. Nhưng tiền nào của đó, đó là chân lý!

Honolulu có tất cả các cửa hàng loại xịn. Hàng hiệu cỡ nào cũng có cửa hàng riêng to đùng. Tesla cũng chiếm một góc của một trung tâm thương mại Waikiki Shopping Plaza lớn vào bậc nhất của Honolulu. Phòng trưng bày xe của họ nằm ngay góc đường, dân đi qua đi lại được mục kích những chiếc xe chạy điện được mở những cánh cửa thằng đứng lên phía trên trông như những cánh của một loài chim quý. Tôi đã được coi video của một người Việt, chủ nhân của chiếc xe Tesla, biểu diễn một cuộc múa xe với hai chiếc cánh này hợp cùng dàn đèn và những chiếc cửa khác trông rất ngoạn mục.

Trong trung tâm thương mại Waikiki Shopping Plaza này, tôi bắt gặp bức tượng của Don Ho. Không, không phải Don Ho của chúng ta mà là Don Ho của Hawaii, tuy cả hai đều là ca sĩ. Sự trùng tên này có…lịch sử của nó. Don Ho của chúng ta tên thật là Hồ Mạnh Dũng. Tên Dũng đọc theo tiếng Mỹ không được thơm tho lắm nên khi còn là sinh viên, khá nổi tiếng về tài ca hát trong học đường, anh chọn cái tên Don Hồ mà không biết bên Honolulu đã có một ca sĩ nổi tiếng mang tên này. Đây là cái lỡ rất có lợi cho Don Hồ. Một phần nào vì sự trùng tên này mà anh được biết đến nhiều hơn. Nhất là khi anh lanh trí học thuộc lòng và trình diễn tại trường nhạc phẩm nổi tiếng “The Tiny Blue” của Don Ho Honolulu. Từ đó anh được các thầy cô cũng như sinh viên trong trường biết tới anh nhiều hơn. Gặp bức tượng Don Ho Honolulu trong thương xá này, tôi khoái chí đứng bên cạnh chụp một tấm hình. Dù sao đây cũng là một giai thoại văn nghệ vui vui.

Tượng Don Ho tại Honolulu

Cũng vui như khi tôi bất ngờ đọc được tiếng Việt trên xe buýt. Đó là một thông báo về sự đối đãi đồng đều, không phân biệt chủng tộc với tất cả hành khách của xe buýt. Nguyên văn bản tiếng Việt viết như sau: “TheBus sẽ không dựa vào chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia, giới tính, hoặc khuyết tật v..v.. của hành khách mà có sự phân biệt đối xử, và đảm bảo giao thông vận chuyển công bằng cho tất cả các cộng đồng bất kể mức thu nhập và địa vị xã hội của họ”. Ngoài tiếng Anh là chính, bản thông báo này còn có bản bằng tiếng bản địa, tiếng Hoa và tiếng Tây Ban Nha. Sự xuất hiện của tiếng Việt cho biết là dân Mít ta chắc cũng đông người dùng xe buýt.

Xe buýt là phương tiện giao thông rẻ nhất. Giá vé bao nhiêu, tôi không rõ, nhưng giá đặc biệt dành cho các bậc cao niên chỉ một đô. Rẻ hơn nhiều so với taxi hoặc Uber và Lyft. Uber và Lyft là hai hãng chuyên chở rẻ hơn taxi tại nhiều thành phố trên thế giới. Điều tức cười là Uber và Lyft là hai đối thủ cạnh tranh nhau nhưng tại Honolulu các tài xế lại làm việc cho cả hai hãng. Họ dán cả hai bảng tên Uber và Lyft trên kiếng xe. Trên kiếng trước là tấm cạc tông, một bên viết chữ Uber, một bên viết chữ Lyft. Họ lật mặt này hay mặt kia khi khách gọi hãng này hoặc hãng kia. Chẳng giấu giếm chi. Thiệt đề huề!

Khi ngồi trên chiếc Lyft từ phi trường về khách sạn, tôi chú ý ngay tới cái tên “Phở Old Saigon”. Nó nằm ngay sát cạnh khách sạn. Vậy là có…bếp ăn rồi. Nhưng cửa tiệm khá rộng, có mái uốn cong cong đặc biệt Á Đông này cửa đóng then cài. Họ đóng cửa từ khuya. Nỗi mừng chưa chín đã tàn lụi. Nhưng vào google, thấy có vài tiệm phở khác. Vậy là nếm thử phở hải đảo. Chọn tiệm “Phở Saigon”.  Chắc tiệm này là…tân Sài Gòn! Tiệm khá đông thực khách tây lẫn ta. Phở nấu rất khá. Dù sao có phở ăn được tại hải đảo xa xôi này cũng đủ vui rồi. Nhưng cái giá khi tính tiền thì ít vui. Chẵn chòi 17 đô một tô. Dưới biên lai thu tiền lại có nhắc nhở tiền tip 18% là bao nhiêu, 22% là bao nhiêu. Cứ thế mà chi. 

Tại phố Tầu có một tiệm Việt Nam khác mà thực khách cho điểm khá cao. Tiệm đông nghẹt, phải xếp hàng chờ. Không hiểu có phải vì cái tên tiệm ngồ ngộ “The Pig & The Lady” không? May mà tôi cẩn thận có đặt bàn trước nên không phải rồng rắn trước cửa tiệm. Món ăn có những cái tên nghe rất lạ. Phải tham vấn anh chạy bàn không phải người Việt, mới chọn được món ăn. Bữa đó có món đặc biệt phở đuôi bò. Bèn nắm đuôi bò liền một khi. Tô phở được mang ra không ra một tô phở. Nước phở đen kịt, váng mỡ, lộn chộn nhiều thứ rau. Có cả trái tắc cắt đôi. Vậy mà chủ nhân là dân Việt chính cống, họ Lê, có treo hình đàng hoàng. Chắc phở này dành cho Tây!

Đồ ăn Nhật có lẽ ăn trùm ở Hawaii. Trên đường phố, tôi bắt gặp nhiều cặp vợ chồng già người Nhật dắt nhau đi dạo. Dân Nhật tới Hawaii từ đầu thế kỷ 18. Theo thống kê dân số năm 1920 thì dân gốc Nhật ở Hawaii chiếm tới 43%. Nhưng tới năm 2000, tỷ lệ này chỉ còn 16,7%. Tỷ lệ này không phản ảnh đúng sự thực vì thống kê ghi số người lai trong một mục riêng. Vậy nên tỷ lệ số người có giòng giống Nhật lớn hơn nhiều. Có lẽ đồ ăn Nhật được nhiều người không phải là dân Nhật thích, nên tiệm ăn Nhật chiếm thế thượng phong. Tôi là một trong những fan của đồ ăn Nhật. Chỉ trong một tuần ở Hawaii, tôi nếm không biết bao nhiêu món ăn Nhật. Từ những tiệm nhỏ xíu ở góc đường tới những tiệm to đùng. Ngay tại khu đô hội nhất ở Honolulu còn có một khu gọi là Japanese Food Court gồm toàn cửa hàng ăn Nhật.
Nhưng nói về nhà hàng Nhật phải kể tới tiệm mì Marukame Udon. Tiệm này nằm ngay gần khách sạn tôi trú ngụ, cùng trên đường Kuhio, chỉ cách vài căn. Từ giờ mở cửa tới lúc đóng cửa, luôn có hàng người rồng rắn chờ vào ăn. Khi ít khoảng chục người, khi nhiều cả trăm người. Tôi đi ngang tiệm này hàng ngày nên không thể không vào ăn thử. Chọn giờ chiều chiều, khoảng 3 giờ, tương đối vắng, tôi xếp hàng. Khi tới lượt được vào tiệm, vẫn phải xếp hàng lấy khay và đặt món. Họ chỉ chuyên bán mì udon. Mì được các công nhân làm ngay tại chỗ, trước mặt khách xếp hàng. Trên đường vào bàn, họ có để các món ăn phụ, thực khách thích thứ nào bỏ vào khay thứ đó. Khi tới két trả tiền, họ tính tiền và khách bưng khay tới bàn ngồi ăn. Giờ ăn được hạn chế tối đa là một tiếng đồng hồ cho mỗi thực khách. Hàng người cứ tuần tự nhi tiến, thay nhau vào ra. Với cách tổ chức này, họ tiếp được nhiều khách hơn đồng thời cần ít người làm hơn. Phải công nhận mì udon nơi đây rất đặc biệt. Nêm nếm vừa ngon, sợi mì tươi rất đậm đà, nước dùng ngọt ngào mùi rau củ.

Người Nhật chiếm đa số ở Hawaii nhưng cũng chính người Nhật khai chiến với Mỹ ở Hawaii. Hầu như ai trong chúng ta cũng biết trận chiến Pearl Harbor mà sách lịch sử thế giới của chúng ta gọi là trận Trân Châu Cảng. Ngay ngày đầu tiên tới Hawaii tôi đã tới khu lịch sử này.

Sáng Chủ Nhật ngày 7 tháng Mười Hai năm 1941, khoảng 8 giờ, Hải Quân Hoàng Gia Nhật đã tấn công căn cứ Mỹ Pearl Harbor. Lúc đó Thế Chiến Thứ Hai giữa trục Đức, Ý và Nhật một bên và các nước Đồng Minh Âu châu một bên đã kéo dài hai năm. Mỹ vẫn đứng ngoài. Bất thần Nhật tấn công Mỹ khiến thế trận thay đổi. Ngay ngày hôm sau, Mỹ tuyên chiến với Nhật. Nhật chủ động chọc giận Mỹ, vì họ muốn ngăn ngừa Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ can thiệp vào các hoạt động quân sự của Nhật tại Đông Nam Á gồm các thuộc địa của Anh, Hòa Lan và Mỹ. Trân Châu Cảng chỉ là khởi đầu, Nhật còn đồng loạt tấn công trong bảy tiếng đồng hồ tại Guam, Wake  Island, Malaya, Tân Gia Ba và Hương Cảng.

Tại Trân Châu Cảng, máy bay cảm tử Nhật, xuất phát từ 6 hàng không mẫu hạm, đã phá tan toàn thể 8 tàu chiến Mỹ tại cảng, trong đó có 4 chiếc bị đánh chìm. Ngoài ra còn một số tàu khác cũng ăn bom. Số máy bay Mỹ bị triệt hạ là 188 chiếc. Có 2403 binh sĩ Mỹ tử trận và 1178 người bị thương. Số thiệt hại của Nhật rất nhẹ. Chỉ có 29 máy bay và 5 tàu ngầm bị thiệt hại. Số quân Nhật chết chỉ có 64 người. Bữa tới thăm khu cảng Pearl Harbor này, tôi đọc được trên một tấm bảng câu sau: “Nhật thắng một trận chiến nhưng thua cả cuộc chiến”.

USS Bowfin tại Trân Châu cảng

Cảng Pearl Harbor ngày nay đã trở thành một di tích lịch sử nườm nượp người tới thăm. Khu di tích thật rộng, đi hoài không hết, nhất là bữa tôi tới trời mưa, di chuyển khá vất vả. Vừa vào cổng đã mất vui. Tất cả các ba-lô, giỏ xách lớn phải gửi bên ngoài trước khi vô cổng. Cỡ nào mới là lớn, họ để tại cửa vào một giỏ mẫu. Chao ơi, chiếc giỏ chỉ lớn bằng bàn tay. Vậy là coi như phải gửi tất cả bên ngoài. Giá tiền gửi cho mỗi giỏ là 5 đô. Vậy là cứ 5 đô nộp răm rắp. Hàng người xếp hàng gửi giỏ khá dài, số tiền thu vào chắc không nhỏ. Vào bên trong, nếu chỉ lang thang ngó quanh thì không tốn tiền nhưng nếu muốn xuống coi tàu ngầm, coi chiếu bóng cảnh chiến tranh xưa, coi nhiều thứ tàn tích khác thì cứ xỉa bạc chục ra. Thực ra mỗi ngày họ có tặng một số vé vào coi free trên internet, nhưng bữa đó khi tôi vào mạng thì số vé tặng đã hết.

Tôi tò mò muốn xuống coi chiếc tàu ngầm USS Bowfin nên phải xìa 15 đô cộng thuế ra. Kể cũng đáng tiền. Nghe nói tàu ngầm nhưng có bao giờ được biết bên trong nó ra sao. Không gian trong tàu rất chật hẹp, được chia ra từng khoang. Bước từ khoang này qua khoang kia chỉ có một chiếc cửa tò vò nhỏ hẹp. Lách người di chuyển trong từng khoang thật khó khăn. Có khoang máy, khoang phóng ngư lôi, khoang chỉ huy, khoang giường ngủ, khoang sinh hoạt. Nhiều lắm, khó nhớ hết. Tất cả mọi vật dụng trong tàu đều có kích thước nhỏ tới tối đa. Vậy mà phân chia cấp bậc đâu vào đó. Như khoang giường ngủ, có giường nệm dày cho chỉ huy, giường nệm mỏng cho các cấp và giường xếp, không thấy có nệm, dành cho các lính mới tò te. Chỉ có một thứ bình đẳng: nhà cầu! Tất cả các nhà cầu đều có cửa ra vào hoàn toàn bằng kính, bên ngoài nhìn vào rõ ràng. Vậy là từ anh lớn tới anh nhỏ, ngồi lộ hàng như nhau, chẳng có chàng nào ngồi câu giờ được.

Lang thang trên bến tàu, du khách được coi nhiều tượng đài, nhiều di tích như thủy lôi, súng cối, mỏ neo, ngư lôi của Nhật. Tôi chú ý tới tượng một thủy thủ tại một góc tối. Đó là tượng một thủy thủ, hai tay đút trong túi áo, cô đơn đứng nhìn ra khơi. Đọc tấm bia mới biết đây là bức tượng “The Lonely Sailor”. Người thủy thủ này tượng trưng cho tất cả những người đã, đang và sẽ phục vụ trong Hải Quân.

Bữa đó anh không còn cô đơn vì có tôi đứng bên cạnh. Tôi cũng nhìn ra khơi, thấy lòng rất bình an với những lượn sóng lăn tăn trong một ngày biển lặng, nghĩ tới chiến tranh. Tiếng súng nổ trong một ngày gần 80 năm trước tại đây. Tiếng bom rơi trên quê hương tôi trong suốt cuộc chiến tương tàn kéo dài trong bao nhiêu năm. Trước khung cảnh thanh bình này, tôi mới thấy cái vô lý của chiến tranh. Buồn!

Cảnh thanh bình nơi đây kéo tôi trở về xa hơn, tới những ngày thanh xuân, tai nghe tiếng đàn Hạ Uy cầm, réo rắt từng đợt như sóng biển an bình. Hôm nay, đứng trước biển Hạ Uy Di, tôi không hề nghe thấy tiếng đàn năm xưa đã từng mang mang sóng biển, lả lướt dìu dịu đưa tôi về miền được coi là thiên đàng hạ giới.

Quả thật, trong suốt những ngày ở nơi thiên đàng Hạ Uy Di này, tôi không một lần được nghe tiếng đàn Hạ Uy cầm. Thiên đàng đã mất rồi sao?

Song Thao 01/2020

Website: www.songthao.com