Hạ Bá Chung

Chuyện xưa vào ngày 30-4-1975, thủ đô Saigon của nước Việt Nam Cộng Hòa bị thất thủ, dưới sự xâm lược tàn bạo của 3 quân đoàn chính qui Bắc Việt, với sự hỗ trợ của các sư đoàn chiến xa T54, pháo binh 130 ly, súng phòng không và hỏa tiễn.

Trước sự phản bội của nước bạn đồng minh Hoa Kỳ, các tướng lãnh và các đại đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã giã ngũ, trong đó có 11 sư đoàn bộ binh. Hai sư đoàn thiện chiến Tổng Trừ Bị là Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, gồm có 8 lữ đoàn đã bị Bộ Tổng Tham Mưu biệt phái cho các quân đoàn vài ba lữ đoàn, nếu không còn chính danh là đại đơn vị.

Tại chiến trường, chỉ còn lại 3 đại đơn vị chiến đấu tới phút cuối cùng, với sự hiện diện của cấp chỉ huy đầy dũng cảm. Đó là Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh sư đoàn 18 bộ binh; Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư lệnh Lực lượng xung kích quân đoàn III và Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ huy trưởng Lực lượng biệt cách dù.

Mặt trận Xuân Lộc là tuyến phòng thủ cuối cùng bảo vệ thủ đô Saigon của miền Nam. Ba đại đơn vị nêu trên, kiên cường giữ vững chiến  tuyến và đã gây tổn thất nặng nề cho hai quân đoàn chính quy Bắc Việt được trang bị vũ khí hiện đại của Nga, Tàu. Trận đánh này đã được ghi vào quân sử thế giới, vinh danh tinh thần chiến đấu dũng cảm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tác giả tại Hoa Kỳ năm 1973

Tướng Khôi tốt nghiệp khóa 6 Võ Bị Đà Lạt. Tướng Đảo và Đại tá Huấn tốt nghiệp khóa 10 Võ Bị Đà Lạt. 

hinhchuchung222.jpg

Tôi cũng tốt nghiệp khóa 10 Võ Bị Đà Lạt nên cảm hứng viết bài này về các bạn đồng môn. Đứng cạnh những bông hoa hồng, ta dĩ nhiên có được chút ít hương thơm.

Năm 1966, Đại Tá Nguyễn Đình Vinh khóa 10 Võ Bị Đà Lạt, đương nhiệm Đỗng Lý Võ Phòng cho Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Tổng Trưởng Quốc Phòng trong chính phủ của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, đã tổ chức ngày họp mặt đầu tiên của khóa tại Saigon.

Lê Minh Đảo cũng là ngôi sao đang lên, với cấp bậc Thiếu Tá, đương nhiệm Tỉnh Trưởng ở miền lục tỉnh. Đảo có đứng lên bục thuyết trình nói vài lời chào mừng bạn bè cùng khóa. Tôi được biết Đảo và chắc chắn Đảo chưa biết tôi trong đại hội này.

Đa số chúng tôi lúc bấy giờ còn mang cấp bậc Đại úy. Tôi phục vụ ở vùng I chiến thuật, nên chẳng có cơ hội nào tiếp xúc với Đảo, kể cả thời gian đi tù cải tạo, Đảo cấp tướng bị giam ở trại cải tạo Hà Tây, gần thủ đô Hà Nội, còn cấp sĩ quan trung tá chúng tôi ở liên trại I tỉnh Yên Bái, gần biên giới Việt Trung.

Lần thứ hai, tôi bị chuyển ra Bắc, tôi mới có dịp chuyện trò cùng Đảo trong trại Hà Tây.

Tới khi Trung Quốc dạy cho Việt Nam một bài học bằng cách tung ra 3 lộ quân tiến đánh các tỉnh miền biên giới Việt Trung, chúng tôi bị chuyển trại về trại cải tạo Nam Hà, miền trung du Bắc Việt.

Cuối năm 1981, chúng chuyển sĩ quan cấp trung tá chúng tôi về lại miền Nam, những phần tử chúng cho là ác ôn về trại cải tạo Pleiku ở cao nguyên trung phần, trong đó có tôi, phần còn lại về trại Xuân Lộc miền Nam.

Ngày Chủ Nhật đầu tiên ở trại cải tạo Pleiku, tôi đang sắp xếp lại quần áo tại chỗ giường nằm, Trung tá Trần Đăng Khôi khóa 16 Võ Bị Đà Lạt Lữ Đoàn Trưởng Lữ đoàn Dù và Trung tá Nguyễn Lô khóa 17 Võ Bị Đà Lạt Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn Dù lững thững bước vào thăm tôi.

Tôi chưa bao giờ gặp mặt hai vị sĩ quan này. Tuy vậy, họ tên cùng với chiến công hào hùng của hai vị sĩ quan này tôi đã được biết qua báo chí và đài phát thanh.

Sau khi Khôi giới thiệu tên và khóa của Nguyễn Lô, rồi tự giới thiệu tên và khóa của mình, Nguyễn Lô trầm giọng khẽ nói, “Niên trưởng khỏe không?”

Lần đầu tiên tôi nghe được từ ngữ “niên trưởng” làm tôi bâng khuâng suốt ngày. Danh xưng niên trưởng chỉ có được từ khóa 16 Võ Bị Đà Lạt, khi các khóa đàn anh dạy lại các khóa đàn em cũng đang thụ huấn tại trường.

Đêm nằm suy nghĩ lại, khi nghe thấy từ ngữ “niên trưởng” lần đầu tiên, tôi cảm thấy như nghe tiếng một trái bom tình cảm đồng đội nổ tung trong trái tim tôi, vì khi chúng tôi ở đỉnh vinh quang dưới chế độ Cộng Hòa, chúng tôi không tìm lại với nhau để tự hào trong vòng hào quang chiến thắng, mà khi chúng tôi rơi xuống đáy địa ngục trần gian, chúng tôi lại tìm tới nhau để chia sẻ một nụ cười buồn.

Sau này tôi mới biết là, đó không phài là một quả bom tình cảm đồng đội mà là tình tự võ bị, vì danh xưng “niên trưởng” chỉ có ở trường Võ Bị Đà Lạt.

Trên một chiến tuyến ngoài mặt trận, một sĩ quan Võ Bị Đà Lạt, sát cánh chiến đấu với một sĩ quan Võ Khoa Thủ Đức cùng sống chết có nhau là vì tình đồng đội. Còn khi một sĩ quan Võ Bị Đà Lạt khóa đàn anh, sát cánh chiến đấu với một sĩ quan Võ Bị Đà Lạt khóa đàn em, cùng sống chết có nhau là vì tình anh em.

Cụm từ “tình tự võ bị” này cũng là lần đầu tiên tôi được đọc trên đặc san Đa Hiệu do chủ bút Phạm Đình Thừa gởi tới, khi tôi được đoàn tụ gia đình vào năm 1991 tại Hoa Kỳ. Đặc san Đa Hiệu là tiếng nói của Tổng Hội cựu sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Cụm từ “tình tự võ bị” đã được nảy sinh ra ở quê nhà trước đây lâu rồi, trên các mặt trận đẫm máu ở các chiến trường khắp bốn vùng chiến thuật, ở nơi có sự tham dự chia cơm sẻ máu của các cựu sinh viên sĩ quan các khóa của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Làm sao tôi nghe thấy cụm từ “tình tự võ bị” này được, khi mà suốt 7 năm ở vùng hỏa tuyến, tôi chỉ làm việc tham mưu trong Bộ Tư Lệnh lực lượng 3 Thủy Bộ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, rồi chuyển sang Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 24 Lục Quân Hoa Kỳ. 

Hai tháng sau ở trại cải tạo Pleiku, tôi sững sờ khi được gọi tên lên làm việc với hai cán bộ thuộc Bộ công an Hà Nội. Chúng chỉ hỏi sơ qua về lý lịch của tôi, rồi ngày hôm sau, chúng đưa tôi ra phi trường Pleiku, lên máy bay của một hãng hàng không dân dụng trở lại miền Bắc về Hà Nội. Phi cơ hạ cánh xuống trường bay Gia Lâm. Lúc này hai tên công an đã mang quân hàm thượng úy và trung úy. Chúng dẫn tôi tới và giao tôi cho một thanh niên chừng 30 tuổi, mặt mày sáng sủa, sắc sảo, ăn vận quần áo hàng ngoại rất hiếm thấy ở thời buổi này, đang tựa lưng vào chiếc xe hơi dân sự màu đen.

Trong khi chiếc xe di chuyển hướng về trung tâm thành phố Hà Nội, người thanh niên ngồi cạnh tôi ở băng sau tài xế, thỉnh thoảng lại liếc xem giờ ở chiếc đồng hồ điện tử, lộ vẻ khoe khoang. Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy đồng hồ điện tử này. Mặt đồng hồ đen ngòm, nhưng khi bấm nút, ánh sáng lân tinh hiện ra chỉ giờ, chỉ phút. Tôi thoáng rùng mình thầm nghĩ, “chẳng nhẽ tụi khốn nạn công an giái giao mình sang Cục Phản Gián.”

Chiếc xe chạy qua tòa án, quẹo vào nhà giam Hỏa Lò Hà Nội. Trong thời gian giam giữ các phi công tù binh Hoa Kỳ tại đây, nhà giam được châm biếm gọi là khách sạn Hilton. Tôi bị nhốt ở xà lim số 8, phòng số 3, nhìn kỹ trên tường còn có vết khắc tên các tù binh phi công Mỹ. Thiếu tá Nguyễn Đức Thắng thuộc Cục mật vụ trung ương tình báo phủ Tổng Thống bị giam ở phòng số 1. Thắng hiện nay đang cư trú tại San José.

Tôi bị chúng thẩm vấn nhiều lần, xung quanh hoạt động trong Bộ tư lệnh lực lượng 3 Thủy Bộ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Chúng cho tôi xem bức hình Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm Tư Lệnh quân đoàn I, đang gắn lon Thiếu Tá cho tôi trong văn phòng tư lệnh, đứng cạnh tôi là Trung Tướng R.Cushman Tư lệnh lực lượng 3 Thủy Bộ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Sau này về lại Mỹ, Trung Tướng R.Cushman đã có thời làm Giám Đốc CIA (Central Intelligence Agency).

Tôi giải thích nhiều lần cho chúng là, tôi phục vụ ở phòng 3, thuộc về hành quân, An ninh tình báo thuộc về phòng 2. Chúng đều đã biết nguyên tắc tổ chức tham mưu là như vậy. Tuy nhiên, đa nghi vốn là bản chất của người cộng sản.

Sau khi chúng thấy tôi không có liên hệ gì về CIA, chúng đưa tôi về trại cải tạo Hà Tây vào một buổi chiều gần Tết nguyên đán. Chúng tạm giam tôi ở bệnh xá, nơi đây tôi gặp Trung Tá Nguyễn Tái Đàm làm y tá trong coi về thuốc men ở bệnh xá. Tối hôm đó, Đàm nấu cho tôi một gói mì ăn liền, làm tôi cảm động về tình chiến hữu. Đàm loan tin cho bạn bè biết, tôi vừa bị giải từ hỏa lò Hà Nội về, tạm giam ở bệnh xá.

Sáng hôm sau là ngày Chủ Nhật, Tướng Đảo lấy cớ đi khám bệnh, tìm cách gặp mặt tôi, nói vài lời trấn an tôi, biết tôi xao xuyến về chuyến ra Bắc lần thứ hai này.

tuongdao1.png

Tôi lặng lẽ quan sát Tướng Đảo. Mặc dầu đã bị giam cầm tới 6 năm, ăn uống đói khát, thường xuyên bị khủng bố tinh thần, Tướng Đảo vẫn còn dáng vẻ hiên ngang của một tướng lãnh, uy vũ bất năng khuất, nhất cử nhất động đều ung dung thoải mái, nói năng từ tốn và thân thiện.

Cũng buổi sáng hôm ấy, một vị lớn tuổi nhưng tráng kiện, đi ngang qua phòng tôi trong bệnh xá, ông ta khẽ vẫy tay nhìn tôi chỉ vào cánh cửa. Tôi từ từ đi ra, dựa lưng vào tường. Ông ta đứng ngoài cửa khẽ nói, “Anh Chung! Không có gì mà phải lo sợ. Tôi sẽ xin trại trưởng để anh vào ban phiên dịch của tôi.”

Tôi gật đầu cảm ơn. Lát sau tôi hỏi Nguyễn Tái Đàm mới biết ông ta là Đại tá Lại Đức Chuẩn khóa 5 Võ Bị Đà Lạt, trưởng phòng I Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông ta là thân phụ của Đại úy Hải quân Lại Đức Hùng khóa 24 Võ Bị Đà Lạt.

Tình tự võ bị là như thế đấy, tôi rất hãnh diện được xuất thân tử trường Võ Bị Đà Lạt.

Tại Hoa Kỳ vào năm 2003, thành phố Westminster miền Nam Cali, hân hoan chào đón hơn một ngàn đại biểu, đại diện các quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, từ khắp nơi trên thế giới, nghe theo tiếng còi tập họp của Tướng Lê Minh Đảo, về họp mặt trong ngày Đại Hội Toàn Quân lần đầu tiên và có nhẽ cũng là lần cuối cùng, sau khi thủ đô Saigon bị thất thủ vào năm 1975.

Trong một tuần lễ sinh hoạt, đại hội bầu ra được Hội Đồng Đại Diện do Giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh làm chủ tịch. Giáo sư Vinh nguyên là Đại Tá Tư lệnh không quân thời đệ I Cộng Hòa và là khoa học gia về không gian tại Hoa Kỳ.

Tiếp đó, đại hội bầu Hội Đồng Điều Hợp do Tướng Lê Minh Đảo làm chủ tịch, có nhiệm vụ điều hành các sinh hoạt chống Cộng trên các mặt trận chính trị, văn hóa qua 4 khu hội tại Hoa Kỳ và 3 khu hội hải ngoại là châu Âu, châu Úc và Canada.

Vào năm 2005, Tướng Đảo tuyên bố từ chức chủ tịch Hội Đồng Điều Hợp mà không đưa ra lý do. 

Lần thứ hai, tôi được chuyện trò cùng Đảo ở đại hội này.

Trước ngày tiền đại hội, khi Tướng Đảo đang đi quan sát trang trí phòng hội, vợ chồng tôi thong thả đi tới gặp Đảo. Tướng Đảo cười tươi tắn, bắt tay tôi và hơi cúi đầu chào lại bà xã tôi. Bà xã tôi khẽ khàng nói, “Thưa Thiếu Tướng, vợ chồng em tới mời ông bà Thiếu Tướng đi ăn bữa trưa nay để em có được hân hạnh gặp mặt bà Thiếu Tướng.”

Tướng Đảo vừa cười vừa xua tay nói, “Sao chị lại xưng hô như vậy. Chúng ta gọi nhau là anh chị đủ rồi. Chúng tôi là bạn học cùng khóa mà.”

Gặp mặt Đảo trong kỳ đại hội này, lòng tôi có chút ngậm ngùi.

Bước chân người lính

Mặc dầu Đảo đã sống trên đất nước Mỹ cả mười năm nay, lẽ ra con người Đảo phải rạng rỡ hơn, thì trông Đảo có phần tiều tụy, nét mặt đầy vẻ ưu tư, mất đi vẻ kiêu hùng và các trận cười hào sảng trong ngày đại hội khóa 10 vào năm 1966.

Đảo mặc một bộ complet hơi cũ, loại giá tiền vừa phải. Đến ngày khai mạc đại hội, Đảo vẫn mặc bộ này. Tôi suy đoán là vấn đề tài chánh của Đảo không được dồi dào, rồi suy đoán xa hơn nữa, đó là một khuyết điểm của Đảo vì Đảo đứng ra tổ chức đại hội toàn quân có cả ngàn người tham dự, thì tiền bạc phải là vấn đề lớn.

Sau này, khi Đảo từ chức Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hợp, tôi cho là nhóm người hỗ trợ tiền bạc cho ngày đại hội, đã lợi dụng tổ chức qua mặt Đảo. 

Tại quốc nội, Tướng Đảo đã vinh danh quân đội để bảo vệ Tổ Quốc, với cái giá phải trả là 17  năm trong ngục tù cộng sản. 

Tại hải ngoại, Tướng Đảo đã vinh danh cấp tướng lãnh để bảo vệ sự đoàn kết của đoàn quân chiến bại với cái giá phải trả là sự xuyên tạc vu vơ. 

Giờ đây trên bầu trời của đoàn người di tản xa quê hương, một vì sao sáng đang dần dần mờ nhạt….. 

Đại Tá Trần Quang Khôi và tôi cùng thụ huấn bổ túc Anh ngữ trong 6 tháng tại trường Sinh ngữ Quân Đội để chuẩn bị du học và cùng thụ huấn tại trường đại học Chỉ Huy và Tham Mưu Fort Leavenworth Hoa Kỳ thời gian một năm.

Phòng của niên trưởng Khôi và tôi sát liền nhau, mỗi buổi sáng chúng tôi thả bộ dọc theo bờ hồ là tới các giảng đường.

Khi viết về niên trưởng Khôi, kỷ niệm đầu tiên hiện ra trong trí nhớ của tôi là bữa ăn tối tại tư gia của niên trưởng Khôi trước ngày du học, ngoài tôi ra còn có Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng khóa 10 Võ Bị Đà Lạt, và hai ba người nữa mà tôi quên mất tên.

Phu nhân Tướng Khôi là một phụ nữ miền Nam dịu dàng, hòa nhã dáng vẻ cao sang, lúc nào cũng có nụ cười trên môi.

Chúng tôi được thưởng thức một bữa ăn ngon miệng, với các món ăn được nấu nướng với các gia vị đặc biệt của người miền Nam. Mỗi khi tiếp món ăn cho chúng tôi, khuôn mặt niên trưởng Khôi luôn luôn rạng rỡ, cười nói, “Món này do chính tay bà xã tôi nấu đấy.”

Sự ấm cúng, hạnh phúc của một gia đình như tỏa hương thơm trong không khí, làm tôi vô cùng ngưỡng mộ.

Cuộc đời binh nghiệp của niên trưởng Khôi lúc bỗng, lúc trầm. Thời kỳ đắc ý nhất của niên trưởng Khôi là đảm nhiệm chức vụ Lữ Đoàn Trưởng Lữ đoàn 3 Kỵ binh dưới quyền Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh quân đoàn III.

Tới khi niên trưởng Khôi sáng tạo ra mô hình đơn vị tác chiến mới mẻ là Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III, Tướng Trí đánh giá cao sáng kiến này, cho thực hiện và chỉ định Đại Tá Khôi làm Tư lệnh lực lượng này.

Lữ đoàn Kỵ binh có 3 chiến đoàn kỵ binh. Mỗi chiến đoàn kỵ binh được tăng cường một tiểu đoàn Biệt động quân, coi như quân số cơ hữu. Như vậy mỗi khi lâm trận, hệ thống chỉ huy được thống nhất giữa thiết giáp và bộ binh và tạo được tính năng động mỗi khi hiệp đồng tác chiến.

tuongkhoi1.png

Trong trận tấn công qua biên giới Việt – Miên đánh thẳng vào căn cứ đầu não của Mặt trận Giải phóng miền Nam nằm sâu trong nội địa nước Miên, lực lượng xung kích quân đoàn III đã tạo được nhiều chiến thắng vẻ vang, mang lại niềm kiêu hãnh cho binh chủng Thiết Giáp.

Vận nước đến hồi mạt vận. Trung tướng Đỗ Cao Trí, danh tướng số 1 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tử nạn khi máy bay trực thăng bốc cháy trên không trung, cùng với đám tùy tùng.

Trung tướng Nguyễn Văn Minh được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh quân đoàn III. Chẳng bao lâu sau, Tướng Minh xé lực lượng xung kích quân đoàn III ra làm hai mảnh, một mảnh trả về Thiết giáp, một mảnh trả về Biệt động quân. Đại tá Khôi bất mãn xin đi du học Hoa Kỳ.

Gần 1 năm sau, quân đoàn III dưới sự chỉ huy của Tướng Minh đã rơi vào tình trạng thụ động, trước áp lực nặng nề của địch quân. Tổng Thống Thiệu phải cấp thời bổ nhiệm Trung Tướng Thuần làm Tư Lệnh quân đoàn III, thay thế Tướng Minh.

Một năm sau, niên trưởng Khôi du học trở về. Tướng Thuần lên Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu trả Đại tá Khôi về lại quân đoàn III, với trách nhiệm thiết lập lại lực lượng xung kích quân đoàn III như thời Tướng Đỗ Cao Trí, và bổ nhiệm Đại tá Khôi làm Tư lệnh lực lượng này.

Như cá gặp nước, Đại tá Khôi đoạt được nhiều chiến công oanh liệt và được thăng cấp Chuẩn Tướng ngoài mặt trận. Ngôi sao cấp tướng này đã làm Chuẩn tướng Khôi vô cùng vinh dự và đầy ý nghĩa vì đây là ngôi sao chiến công của binh chủng Thiết giáp.

Trong các vị tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có nhiều vị đội mũ đen binh chủng Thiết giáp như Trung tướng Vĩnh Lộc, Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, nhưng các vị này đã ra khỏi binh chủng Thiết giáp, sang làm Tư lệnh sư đoàn bộ binh mới thăng cấp tướng.

Từ khi du học trở về, thời gian đi tù cải tạo tới khi định cư tại Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ có được tin tức về niên trưởng Khôi. 

Cách đây chừng bảy, tám năm, tôi đọc tuần báo Saigon Nhỏ phát hành từ Nam Cali, thấy đăng cáo phó của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi về người hôn phối đã tạ thế ở bang Virginia. Tôi sững sờ nhớ lại bữa cơm chị Khôi đã nấu nướng cho mấy người chúng tôi trước khi đi du học Hoa Kỳ.

Tôi mất nhiều thời giờ trước sạp thiệp chia buồn (sympathy) của nhà in Hallmark trong siêu thị Lucky, mới chọn lựa được lời viết chia buồn vừa thiết tha vừa chân thành và các hình vẽ màu sắc trình bày thanh nhã sao cho phù hợp với con người của chị Khôi. Trang trong bên trái, tôi viết vài chữ, “Kính niên trưởng. Vợ chồng tôi thành tâm xin được chia sẻ nỗi đau buồn của niên trưởng.”

Chừng hai, ba tuần sau, tôi nhận được bì thư nhỏ bé loại thiệp cảm ơn in sẵn của niên trưởng Khôi, vỏn vẹn hai hàng chữ với lời lẽ vô cùng cảm động. Đọc xong tôi ngạc nhiên đến sững sờ, không ngờ con người niên trưởng Khôi bề ngoài khô khan, nghiêm khắc mà có những lời lẽ đầy tình cảm thiết tha như vậy. Bà xã tôi đọc xong, cũng phải quay đi chùi vội giọt nước mắt, rồi nhìn tôi khẽ nói, “Lòng em thương anh mà người ngoài còn nhìn thấy được. Em giữ tấm thiệp này.”, rồi lặng lẽ cầm bì thư cất vào ngăn tủ.

Mấy bữa nay, tôi cố lục tìm tấm thiệp này mà không sao tìm được vì bà xã tôi cũng đã đi về đất Phật hơn một năm rồi.

 Tôi chỉ nhớ nội dung tấm thiệp là, niên trưởng Khôi diễn tả ánh mắt u buồn của bà xã tôi nhìn tôi bước ra sân bay, đến giờ phút này vẫn làm niên trưởng Khôi xúc động. Tôi nghĩ, những lời lẽ tình cảm thương nhớ về vợ chồng làm xúc động lòng người, chỉ viết ra được từ một người vợ hay chồng, vừa mất đi người bạn đời của mình để lại mình sống trong cảnh tuổi già cô quạnh.

Trong cuộc chiến tranh Quốc – Cộng, tại miền Nam Việt Nam, tướng Khôi đã vinh danh binh chủng Thiết giáp, chiến đấu để bảo vệ quyền tự do, dân chủ cho người dân miền Nam với cái giá phải trả là 17 năm trong ngục tù Cộng sản. Giờ đây, trên bầu trời của đoàn người di tản xa quê hương, một ngôi sao cô độc còn lập lòe chiếu sáng….

Khi còn tại trường Võ Bị Đà Lạt, Đại tá Phan Văn Huấn và tôi ở khác đại đội nên không quen biết nhau. Từ khi ra trường tới khi mất nước, Huấn và tôi vẫn chưa có dịp nói chuyện với nhau lần nào. Mãi tới năm 2002, Tổng hội cựu sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tổ chức đại hội tại Nam Cali, tôi xuống tham dự mới chuyện trò với Huấn.

Tuy vậy, tôi đã được biết thành tích vẻ vang của Huấn trong binh chủng Biệt kích dù, vì tôi có người cháu con người chị ruột, cấp bậc Đại úy trước thuộc lực lượng biệt kích mũ xanh của Mỹ, sau chuyển sang lực lượng đặc biệt biên phòng dưới quyền của Huấn.

Một hôm, hắn từ San José xuống thăm tôi tại Fremont. Hai cậu cháu chuyện trò hỉ hả về chuyện ngày xưa khi còn mặc áo lính ở quê nhà. Bỗng nhiên, hắn cười hì hì rồi nói, “Gần đây cháu vừa tìm ra một nhân vật nổi tiếng, có nhiều liên hệ tới biệt kích dù của cháu.”

Tôi ngạc nhiên hỏi, “Sao bây giờ mới tìm ra. Là ai vậy?”

Hắn làm một hơi hết nửa ly la-de rồi mới nói, “Cậu là vua đọc chuyện chưởng của nhà văn Kim Dung. Trong bộ “Lục Mạch Thần Kiếm”, hai vị đại cao thủ nổi tiếng trong võ lâm là, “Nam Mộ Dung, Bắc Kiều Phong.” Đòn sát thủ của Kiều Phong là “giáng long thập bát chưởng”, còn đòn sát thủ nổi danh của Mộ Dung Cô tô là “gậy ông đập lưng ông.” Cậu thấy ai là người có liên hệ tới nguồn gốc biệt kích dù của tụi cháu?”

Tôi nạt nó, “Thôi đi! Mày nói dóc tổ sư. Chuyện chưởng là chuyện chưởng ở bên Tàu, biệt kích dù của mày là biệt kích dù ở Việt Nam. Tao chẳng thấy một chút dây mơ rễ má nào cả.”

chuchung6222.jpg

Hắn cười khoái trá nói, “Vậy mà có đấy! Công tử Mộ Dung Cô Tô sử dụng chiêu “gậy ông đập lưng ông” nghĩa là địch thủ có chiêu sát thủ nào thì sẽ bị chết vì chiêu sát thủ đó. Tỉ như chưởng môn phái Côn Luân nổi danh về “thất thương quyền”, nếu đấu chưởng với Mộ Dung công tử thì chưởng môn phái Côn Luân sẽ bị chết về chiêu “thất thương quyền”, có nghĩa là lục phủ ngũ tạng rời phương vị. Đại tá Chỉ huy trưởng Biệt kích dù của tụi cháu, sử dụng chiêu đó với tụi Việt cộng. Chúng nó sở trường tác chiến ban đêm, biệt kích dù chúng cháu tấn công tụi nó toàn vào ban đêm, như chúng cháu đã làm ở thị xã An Lộc, khi thị xã này bị chúng chiếm đóng, chúng cháu phải vào giải tỏa. Thị xã An Lộc bị chúng chiếm giữ đã lâu ngày, nên chúng cháu gặp nhiều khó khăn, chết khá nhiều, phải chôn ngay trong thị xã. Tuy vậy, chúng cháu tiêu diệt tụi Việt cộng trọn ổ. Dân chúng cũng bị chết oan vì lạc đạn không biết bao nhiêu nữa. Một cô giáo ở thị xã An Lộc còn sống sót sau cuộc chiến, khi đi qua dãy mộ biệt kích dù, đã tức cảnh sinh tình, làm ra một câu đối để đời,

An Lộc địa, sử ghi chiến tích

Biệt kích dù, vị quốc vong thân.”

Nói xong, hắn cười ha hả khoái chí. Tôi cũng phì cười, vì thằng này đúng là tổ sư nói dóc, nhưng nghĩ lại cuộc chiến ở An Lộc, thì chuyện xảy ra đúng như vậy. Tôi đẩy đĩa thịt nướng lại phía nó, rồi hỏi, “Vậy chứ Đại tá Huấn của mày còn có chiêu thức “gậy ông đập lưng ông” nào nữa không?”

Hắn cười toe toét, “Đại tá chỉ huy trưởng của tụi cháu là vị chưởng môn mà. Thiếu gì chiêu thức sát thủ. Chiêu sát thủ thứ hai, ổng dạy cho tụi cháu, mỗi khi chúng cháu nhảy toán vào mật khu của chúng, thường là rừng già giữa biên giới Việt – Lào, chúng cháu đã được huấn luyện cam go và được trang bị đầy đủ, y chang việt cộng. Chúng cháu đội nón cối, mặc đồ vải xanh dệt tại Nam Định, đeo súng AK47, y hệt tụi nó. Nói năng là mở miệng ra chửi thề tục tĩu. Đặc công Việt cộng giả dạng thường dân vào thủ đô, hay tỉnh lỵ đốt kho xăng, kho đạn của ta, thì chúng cháu cũng giả dạng Việt cộng vào mật khu đốt kho xăng, kho đạn của chúng. 

Tuy vậy, nhiệm vụ nhẩy toán của chúng cháu thường là thu thập tin tức tình báo quan trọng hơn. Có lần vào ban ngày, chúng cháu bất ngờ chạm mặt mấy thằng bộ đội chính quy Bắc Việt ở khe suối, cháu còn vỗ vai tụi nó, cho chúng hút thuốc lá rê nữa.”

Tôi cười nói, “Thôi đủ rồi! Nhân danh bạn khóa 10 với chỉ huy trưởng của mày, tao gắn cho mày một cái huy chương Đệ nhất đẳng bội tinh “nói dóc.”

Thế là hai cậu cháu tôi cười vang nhà.

Năm 2002, tôi xuống Nam Cali tham dự đại hội của Tổng Hội cựu sinh viện sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. 

Nhân viên ban tiếp tân dẫn tôi tới bàn dành riêng cho khóa 10, ngồi cạnh Huấn. Tôi bắt tay Huấn nói, “Tao, Chung”, và Huấn cười đáp lại, “Tao, Huấn”. Lúc ngồi xuống tôi mới chợt nhớ ra hỏi, “Mày là Phan Văn Huấn?” Huấn cười nhẹ gật đầu.

Thế là tôi chủ động làm quen với hắn, gợi chuyện hỏi thăm về gia cảnh của hắn. Hắn trả lời nhã nhặn cầm chừng. Đến khi tôi chuyển đề tài sang nói chuyện về các bạn đồng khóa, thì hắn tham gia đầy nhiệt tình với các bạn ngồi cùng bàn, cười nói vui vẻ, ồn ào náo nhiệt.

Thừa lúc hắn ngả mình ra dựa vào thành ghế, tôi cũng làm như hắn, rồi quay sang hỏi, “Bao lâu rồi mày không trở lại thăm Đà Lạt?”

Đưa mắt nhìn tôi, hắn tươi cười trả lời, “Trước năm 1975, năm nào tao cũng lên Đà Lạt một, hai lần. Đó là thú vui duy nhất của tao, thời còn lại ở Saigon. Tao luôn luôn dành riêng một ngày để sống y chang của một sinh viên sĩ quan dạo phố ngày Chủ Nhật. Buổi sáng tao dạo quanh chợ Hòa Bình để tìm ăn lại những món ăn khi xưa. Buổi trưa tao lái xe tới trường Võ Bị Đà Lạt cũ để nhìn cái cổng trường, mà mỗi khi đi ra đi vào, phải đi theo hàng và hát bài “Xuất Quân”. Sau đó, tao thả bộ xuống thị xã nhỏ bé Saint Benoir, dạo quanh mấy phố, rồi trèo qua hai ngọn đồi trong rừng thông tới hồ Than Thở. Tao ngồi tĩnh tâm ở đó rất lâu, để lòng mình thanh thản nhớ lại chuyện xưa.”

Tôi cười cười nhìn hắn, đoán mò, “Vậy là có một cuộc tình nho nhỏ áo trắng học trò ở Saint Benoir phải không?”

Hắn mỉm cười, im lặng.

Cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt giữa quân dân miền Nam trong khối Thế Giới Tự Do, trước sự xâm lược tàn bạo của bọn quỷ đỏ cộng sản miền Bắc, trải dài gần 20 năm, đã kết thúc vào ngày 30-4-1975.

“Trong chiến tranh Việt Nam, kẻ ác đã thắng.” Đó là lời nói của Thượng Nghị Sỹ Mc Cain trong quốc hội Hoa Kỳ, ứng cử viên Tổng Thống vào năm 2008 và cũng là cựu phi công tù binh trong cuộc chiến này.

Bên thắng cuộc là miền Bắc. 

Hệ lụy của cuộc chiến này là, hàng trăm ngàn vợ con của các sĩ quan miền Nam đi tù cải tạo, bị đuổi ra khỏi nhà trong thành phố, cưỡng bách đi vùng kinh tế mới ở miền rừng núi hoang vu; là hàng triệu người dân miền Nam vô tội, sống trong gông cùm dưới chế độ cộng sản, đã vượt biển tìm tự do, với hậu quả gần nửa triệu người chết trong lòng đại dương; là hàng chục ngàn thiếu nữ ở nông thôn miền Nam bán mình để cứu đói gia đình, với cái giá chỉ chừng một, hai ngàn đô để về làm dâu cho các chàng rể già lão hay tàn tật ở các nước Hàn Quốc, Đài Loan…

Đại tá Phan Văn Huấn cũng chỉ là một trong hàng ngàn dũng sĩ cựu sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, đã đem hết tâm huyết, trí tuệ và lòng dũng cảm để bảo vệ chế độ Việt Nam Cộng Hòa nhằm đem lại hạnh phúc cho người dân miền Nam.

Lịch sử đã sang trang, nhưng hàng trăm năm sau vẫn còn vang vọng lại lời nói của Thượng Nghị Sĩ Mc Cain, “Trong chiến tranh Việt Nam, kẻ ác đã thắng.”

Fremont tháng 3 năm 2020

Hạ Bá Chung