Mường Giang

“Nếu có kiếp sau, chỉ xin được tiếp tục làm người lính VNCH”

Trong những ngày cuối của cuộc chiến Việt Nam, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo là người chỉ huy của Sư Đoàn 18 Bộ Binh với chiến tích chặn đứng Cộng quân vào Xuân Lộc, từ đó, ông có biệt danh “Người Hùng Xuân Lộc”. Sau đó ông bị tù cộng sản cho đến ngày 5/5/1992. Tháng Tư 1993 ông định cư tại tiểu bang Virginia và sau này chuyển về sống tại Connecticut. Ngày 19/3/2020 ông qua đời tại Connecticut, hưởng thọ 87 tuổi. (SGN)

Sau khi hiệp định Ba Lê được ký kết vào tháng 1-1973, cũng là lúc VNCH coi như đã bước vào tử lộ vì bộ đội Hà Nội được Mỹ cho phép công khai ở lại Miền Nam. Ba mươi năm chinh chiến, tất cả gian khổ hiểm nguy đều vượt qua được , không ngờ phút cuối lại bị sụp đổ oan nghiệt trong thời gian ngắn ngủi 55 ngày. Thảm trạng trên chỉ là kết cuộc tất yếu của một quân lực luôn luôn trực diện với thù trong giặc ngoài. Tại chiến trường, lợi dụng cái vô duyên bất xứng của đám “ bốn bên bốn bè” và tai ngơ mắt nhắm của Hoa Kỳ nên Hà Nội ngang nhiên tha hồ chuyển quân, vũ khí qua đường bộ dường biển, để tấn công QLVNCH trên khắp bốn vùng chiến thuật, dành dân, chiếm đất và khủng bố dân lành.

Tại hậu phương an bình, người dân thờ ơ đứng bên lề cuộc chiến, coi cái sự ngăn chận chống VC là chuyện của Lính. Tệ hơn là lúc đất nước sắp mất vào tay giặc thù, lại có một ít trí thức miền Nam quen hoang tưởng, sống no cơm ấm cật, bị bọn thân cộng VC nằm vùng như Sơn Nam, Vũ Hạnh, Kiên Giang Hà Huy Hà, Phong Ðạm.. trên các báo đảng Tin Ðiển, Tia Sáng, Thần Chung, Ðối Diện.. dựa vào Luật Uỷ Quyền của Quốc Hội, cho phép TT. Nguyễn văn Thiệu được quyết định cơ mật quốc gia trong thời chiến cũng như sắc lệnh 007/SLU/TT về báo chí, để xuí giục các ký giả xuống đường vào ngày 10-10-1974 tại Sài Gòn, đòi tự do, quyền lợi như các nước Âu Mỹ tiền tiến và đang sống hoà bình. Nhưng nhức nhối nhất vẫn là viện trợ Mỹ, lúc đó đang trở thành chiếc thòng lọng siết cổ VNCH. Trên trường quốc tế, bọn nhà báo da trắng bất lương, vô liêm sỉ nhất là báo chí truyền thông Hoa kỳ như Morley Saper, David Halbertan, Water Cronkite.. loan tin bừa bãi, uốn cong ngòi bút, a dua xu thời, thân cộng, kết bè với cái gọi là thành phần thứ ba, hầu hết trốn quân dịch hay thuộc thành phần trí thức mạt vận, phá nát hậu phương miền Nam.

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và phu nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong buổi hội ngộ Sư Đoàn 18 Bộ Binh tại Little Saigon năm 2015. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Trong suốt chiều dài lịch sử Hồng Lạc, chưa bao giờ người Việt phải đau xót về cái thân phận nhược tiểu của dân tộc mình. Tại miền bắc, VC chỉ là một tên đánh thuê cho khối XHCN, trong lúc đó miền nam cũng thảm thê không kém. Chính nghĩa dân tộc đã bi Hoa Kỳ đánh lạc hướng, để có lý do coi VNCH như một thuộc địa. Bởi vậy người Mỹ đã độc đoán, tự mình quyết định vận mệnh của nước khác, theo chính sách chỉ có lợi cho Mỹ mà thôi. Dùng quân viện để hù dọa và trói tay QLVNCH, cuối cùng thì bán đứng cho VC để đổi lấy thị trường Trung Cộng, vừa làm giàu vừa có đồng minh tiêu diệt Liên Xô. Ngày 25/5/1974, Hạ viện Hoa Kỳ bác bỏ ngân sách quân viện VNCH tài khóa 1975 dự định là 1 tỷ, 400 triệu đô la. Số tiền này sau đó được biểu quyết, có hiệu lực sau ngày 1/7/1974, chỉ còn 700 triệu đô la, trong số này có 300 triệu trả lương cho người Mỹ đang phục vụ tại VN. Ngoài ra cũng hủy bỏ lời giao kết 1 đổi 1, trong việc thay thế quân trang dụng cho QLVNCH, trong lúc đó giá xăng dầu lại tăng, nên cuối cùng quân viện của miền nam từ 1 tỷ 700 triệu đô, kể từ tháng 7-1974 chỉ còn 300 triệu.

Ngày 9-8-1974, Tổng Thống Nixon từ chức vì vụ Watergate, kéo theo xuống mồ những giao kết với Tổng Thống Thiệu. Ford lên thế chức nhưng không có uy tín vì không phải là tổng thống dân cử, nên cũng đành khoanh tay bất lực, đứng nhìn cái quốc hội do bon dân cử đảng dân chủ thân cộng, tác quái giết chết VNCH. Ngày 18-12-1974, Hà Nội nhận quân viện của Liên Xô, bắt đầu tổng tấn cống chiếm miền Nam theo lệnh quan thầy. Cũng từ đó, máu bắt đầu chảy khắp chiến trường, mở màn Phước Long thất thủ ngày 2-1-1975, kế tiếp Ban Mê Thuột ngày 10-3-1975, dẫn tới hai cuộc lui quân của QD2 và QD1 trong những ngày đầu tháng 4/1975, kéo theo sự sụp đổ toàn diện của Vùng 1 và 2 chiến thuật, mà tỉnh cuối cùng thất thủ là Phan Thiết vào ngày 19-4-1975.

Nhưng tất cả các lộ quân của VC đã bị chận đứng và đánh tan tành tại mặt trận Long Khánh và trong thị xã Xuân Lộc, từ ngày 9-4-1975 bởi Sư đoàn 18BB và các đơn vị tăng phái, do Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo chỉ huy.

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo trong lần tham dự hội ngộ Sư Đoàn 18 ở Little Saigon năm 2015. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Theo tài liệu từ Chiến Sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh, Chiến Tranh VN toàn tập của Nguyễn Ðức Phương, cũng như nhiều sách báo khác, thì ông Lê Minh Ðảo sinh năm 1933 tại Sài Gòn, khóa 10 trường VB/QGDL. Trong cuộc đồi binh nghiệp, ông đã giữ nhiều chức vụ quan trọng như Huấn luyện viên, Trung tâm trường hành quân QD4,Tỉnh Trưởng Long An, Chương Thiện, Ðịnh Tường. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, cố vấn trưởng QD2 Vann, đã đề nghi Trung Tướng Ngô Du, chấp thuận cho ông và Ðại Tá Lý tòng Bá giữ chức tư lệnh SD22 và 23 BB nhưng tướng Du chỉ chấp nhận Ðại Tá Bá làm tư lệnh SD23BB thế chuẩn tướng Võ văn Cảnh tuổi tác hơi lớn. Riêng SD22BB, Tư lệnh phó lúc đó là Ðại Tá Lê Ðức Ðạt, một sĩ quan kỵ binh trẻ và tài giỏi, nên có thể thay chuẩn tướng Triển tuổi già. Cũng vì vậy, tháng 3-1972, Tổng Thống Thiệu đã cử Ðại Tá Ðảo, giữ chức Tư lệnh SD18BB, kiêm Tư lệnh khu 31 chiến thuật, thuộc Quân khu 3. Ông vinh thăng Chuẩn tướng ngày 1-11-1972 và Thiếu Tướng ngày 23-4-1975, được ân thưởng 48 huy chương đủ loại, trong đó có các huy chương cao quý như Bảo quốc huân chương đệ ngũ đẳng, đệ tứ đảng và đệ tam đẳng cùng nhiều huy chương của chính phủ Hoa Kỳ như Silver star, Bronze star… Hai cái lon Chuẩn và Thiếu tướng được đổi bằng máu tại An Lộc trời long đất lở năm 1972 và Xuân Lộc địa ngục A Tỳ vào những ngày cuối tháng tư đen máu lệ 1975.

Sư đoàn 18 BB được thành lập từ tháng 10/1965 tai Xuân Lộc, với danh xưng đầu tiên là SD10BB, do tướng Lữ Lan làm tư lệnh với 3 Trung đoàn bộ binh biệt lập là TrD43, 48 và 52, đều là những đơn vị kỳ cựu thiện chiến của QLVNCH, có trước ngày chia đôi đất nước 1954. Năm 1966, SD10BB đổi danh hiệu là SD18BB và trải qua các cấp tư lệnh như tướng Nguyễn Văn Mạnh, Ðỗ Kế Giai, Lâm Quang Thơ cuối cùng là tướng Lê Minh Ðảo. Trước đây, sư đoàn sở dĩ bị xếp cuối sổ phong trần, không phải vì các vị tư lệnh hay quân nhân các cấp không chịu đánh giặc, mà vì hầu như các đơn vị của sư đoàn luôn bị cắt xén, biệt phái hành quân hết tỉnh này đến vùng khác.. khiến quân sĩ mỏi mệt chán nản, vì vậy lúc nào cũng mang ấn tượng, mình là đơn vị bị trừng giới lưu đầy.

Ai đã từng sống trong các đơn vị bị biệt phái mới biết những thiệt thòi. TD 1/43BB được coi như một đơn vị trừng giới, đã bị Khu Chiến Thuật biệt phái khắp vùng, từ Di Linh tới Phan Thiết, Bình Tuy, Long Khánh, Bình Dương, Tây Ninh, Hậu Nghĩa và tháng 5/1965 mới được trở về với mặt trời, khi toàn bộ Trung Ðoàn 43 biệt lập, lúc đó do Thiếu Tá Nguyễn Dương Huy làm Trung Đoàn Trưởng, trách nhiệm Củ Chi và tỉnh Hậu Nghĩa.

Tháng 3-1972, Ðại Tá Ðảo về làm tư lệnh thế tướng Lâm Quang Thơ, SD 18 BB lúc đó , thật sự chỉ còn 1 TDBB của TrD48, 1 DD trinh sát của TrD48 và DD18 Trinh sát. Còn Trung Ðoàn 48BB thì biệt phái TK.Bình Tuy, Trung Ðoàn 43 biệt Phái Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Trung Ðoàn 52 đang biệt phái SD5BB trong An Lộc. Thế nhưng nhờ biết vận dụng chiến lược và khai thác khả năng chiến đấu của DPQ-NQ diện địa, SD 18BB trừ, đã bình định xong Long Khánh và Phước Tuy. Tháng 6-1972, SD18BB vào An Lộc thay thế SD5BB của Tướng Lê văn Hưng, rút về Bình Dương dưỡng quân. Nhờ vậy Quân Ðoàn 3 đã trả lại các Trung Ðoàn 43,48 và Trung Ðoàn 52 cho SD18BB, Trong An Lộc lúc đó , còn có LD5BDQ của Trung Tá Ngô Minh Hồng tăng phái. SD18BB đã cùng LD5BDQ chiếm lại lãnh thổ đã mất, khai thông QL13 như trước.

Cũng kể từ đó, những người lính thần nỏ vùng đất đỏ Xuân Lộc, như cá gặp nước, rồng thấy mây, tung hoành khắp khu 31 chiến thuật, từ Bình Long, Dầu Tiếng, Bời Lời, Hố Bò, Tây Ninh, Ðức Huệ, cho tới Ðất Ðỏ, Mây Tào, Võ Xu, Ðịnh Quán, gót chân người lính 18BB, vừa súng, vừa thơ, tay đàn, tay kiếm, ngang dọc một trời, mang lại an bình và niềm vui cho cả vùng chiến thuật.

“ Ðêm nay Xuân Lộc vầng trăng khuyết,

như một vành trăng trắng đất trời

chân theo quân rút hồn ta ở

nghe nước La Ngà cuồn cuộn trôi..”

(Nguyễn Phúc Sông Hương,TrgD48/SD18BB),

Danh hiệu 18 đã được hồi phục, gắn liền cùng tên tuổi những sĩ quan tài danh trẻ tuổi của QLVNCH từ Trung đoàn, tiểu đoàn, thiết giáp, pháo binh.. cũng như tên tuổi Chuẩn tướng tư lệnh Lê Minh Ðảo.

Tại mặt trận Xuân Lộc, nhờ tinh thần quyết chiến của quân nhân các cấp, lại được chuẩn bị chu đáo chờ giặc. Tất cả gia đình binh sĩ kể cả bệnh viện đều được di chuyển về Biên Hòa, nên không làm vướng bận tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Về chiến lược, trước khi cuộc chiến xảy ra, quân ta đã chiếm lĩnh những cao điểm do giặc đóng từ trước, đem pháo binh bố trí tại các điểm cao và quan trọng, bí mật tránh phản pháo. Trong thành phố Xuân Lộc, chỉ có DD18 trinh sát và TD1 và 3/43 phòng thủ trong các công sự chắc chắn, kiên cố. Còn lại các đơn vị hùng hậu như Thiết Ðoàn 5 của Trung Tá Nô và Trung Ðoàn 48 của Trung Tá Công thì nằm ở ngoài, nội ngoại đồng loạt tấn cộng địch khi chúng lọt vòng vây, nên đã giữ được phòng tuyến trong những ngày đầu, trước khi Lữ Ðoàn Dù tăng phái.

Ngoài ra SD3KQ ở Biên Hoà đã hợp đồng với pháo binh , oanh kích, xạ kích vào các vị trí giặc chính xác như trên xa bàn, khiến VC không biết đâu mà mò. Chiến đoàn 52 của Ðại Tá Ngô Kỳ Dũng vì phải trải dài vị trí chiến đấu từ Túc Trưng về tới Ngã Ba Dầu Giây, lại gặp toàn là đồng bằng và phải đối chọi với một lực lượng gáp 10 lần, nhưng ta đã giữ vững được vị trí từ ngày 10-15/4/1975, nhất là tại Ðồi Móng Ngựa. Cuối Cùng Chiến Ðoàn 52, tuy bị hao hụt quân số nhưng cũng rút được về Biên Hoà. Kết quả sau nhiều ngày tử chiến, từ 8 đến 20-4, SD18BB,Lữ Ðoàn 1 Dù của Ðại Tá Nguyễn văn Ðỉnh, BDQ, LLDB, Pháo Binh, DPQ-NQ, SD3,4KQ.. đã giữ vững được Xuân Lộc-Long Khánh, chận đứng cuộc tiến quân của Bắc Việt từ cao nguyên đổ xuống và miền Trung vào, hơn 8000 bộ đội bỏ xác tại chỗ, 37 chiến xa T54 bị phá huỷ bởi các loại bom CBU55 và 4 trái tiểu nguyên tử “Daisy cutter” nhưng trên hết là dạy cho quân xâm lăng một bài học để đời trong dòng chiến sử Việt.

Sau ngày 20-4-1975, Long Khánh không còn là vị trí chiến lược, vì các Lộ quân Bắc Việt không thể đương đầu nổi với các cánh quân tại đây cũng như bức tường thép của Lực Lưọng 3 Xung Kích cuả Chuẩn tướng Trần Quang Khôi và Trung Ðoàn 8/SD5BB, nên Lê Duẩn đã ra lịnh tìm đường khác về Sài Gòn. Vì vậy QD3 ra lệnh rút quân về bảo vệ Biên Hòa. Trong những ngày cuối cùng của trận chiến, ta có hai cuộc lui quân thành công, một do TK/Bình Thuận rút bằng bằng đường biển tại bến tàu Kim Hải sáng 19-4-1975 về Vũng Tàu.

Cuộc rút quân thứ hai của SD18BB và các Đơn vị tăng phái Xuân Lộc cũng như TK.Long Khánh do Tướng Lê Minh Ðảo chỉ huy, trên Liên tỉnh lộ 2, Tân Phong-Bà Rịa vào đêm 20-4-1975. Nhờ có tổ chức, có tư lệnh chiến trường là tướng Lê Minh Ðảo cùng đi bộ với binh sĩ, nên cánh quân của Ðại Tá Hứa Yến Lến, TMT/SD18 đã bảo vệ được nguyên vẹn cơ giới, kể cả hai khẩu đại bác 175 gắn trên xe xích. Cuộc lui quân an toàn ngoài sự thiệt hại nhỏ của cánh quân Dù và TK/LK bị phục kích. Ðại Tá Tỉnh trưởng Phạm Văn Phúc bị bắt và chịu cảnh tù tội đọa đày tận ngoài bắc suốt 13 năm. Trong cuộc lui quân, TD2/43 của Thiếu Tá Chế vì đóng quân trên Núi Thị, nên giờ chót phải thay đổi lộ trình.. nhưng cuối cùng cũng tự hành quân rút được về Long Thành, sau ba ngày chiến đấu trong biển giặc.

Tóm lại cuộc chiến thắng tại Xuân Lộc đã cho thế giới biết rõ là quân dân miền Nam rất muốn chiến đấu để chiến thắng giặc Cộng xâm lăng, nhưng họ đã nhiều lần phải bỏ lỡ cơ hội chiến thắng, bởi đồng minh Hoa Kỳ và chính đồng bào mình tìm đủ mọi cách ngăn cản, phá hoại làm hỏng lý tưởng và cuộc chiến thắng sau cùng. Theo ký giả chiến trường Nguyễn Tuyến, làm việc tại Ðài phát thanh Sài Gòn, người đã nhảy vào thị xã Xuân Lộc đang trong cơn bão lửa, theo sát DD18 trinh sát, sau đó cùng với cánh quân dù suốt đọan đường lui quân từ Tân Phong về Bà Rịa, đã trực tiếp phỏng vấn Tướng Ðảo khi ông ngồi nghĩ tại cánh rừng cao su, viết rằng: “ông Tướng rất tự tin, không hề giận dữ hay tỏ vẻ sợ hãi khi điều quân.”.

Rồi ngày Quốc hận đã tới, bấy giờ ngoài Trung Ðoàn 43BB vẫn còn ngăn cố thủ tại Trảng Bom, tất cả Sư Ðoàn đều đóng quanh quẩn gần Long Bình. Chiều 29-4-1975, BTL Sư đoàn 18 mất liên lạc với BTL/QD3 làm xao động các cấp chỉ huy nhưng Thiếu Tướng Ðảo vẫn còn bình tĩnh phối trí các đơn vị dưới quyến, cho tới lúc đó vẫn chưa có ai bỏ ngũ. Trung Ðoàn 43 vẫn giữ Trảng Bom, Trung Đoàn 52 giữ Tam Hiệp và Tân Mai, Trung Đoàn 48 cùng BCH giữ Tổng kho Long Bình và các yếu điểm lân cận trong đêm. Lúc này Tướng Ðảo có trực thăng và đầy đủ phương tiện. Quan lớn quan nhỏ kể cả linh tráng cũng có phương tiện và điều kiện, nếu có ý định chạy, vì căn cứ Hải Quân Cát Lái rất gần, đường bộ đường thủy còn thông.

Nhưng tất cả không ai có ý định chạy, kể cả những lúc mạng sống mỏng manh trong biển máu An Lộc, Xuân Lộc. 8 giờ tối cùng đêm, Tướng Ðảo nhận điện thoại của Trung Tướng Vĩnh Lộc, lúc đó Q. Tổng TMT/QLVNCH của Dương Văn Minh, với lệnh đem toàn bộ SD18BB, phòng thủ bên này sông Ðồng Nai (mé Sài Gòn) và căn dặn phải giữ vững vị trí trong vòng 3 ngày, để chờ phép lạ đưa chim bồ câu trắng tới ban hòa bình trong biển lửa. Do lệnh trên, Tướng Ðảo đã bố trí Pháo Binh SD tại Nghĩa Trang Biên Hòa cho tiện yểm trợ Biên Hòa lẫn Long Bình đồng thời, ngay trong đêm ra lệnh cho TD18 Tiếp Vận cùng các Ðơn Vị Yểm Trợ di chuyển ngay về Biệt Khu Thủ Ðô, để sẵn sàng xuống Vùng 4 Chiến Thuật tiếp tục chiến đấu, nếu Sài Gòn thất thủ. Lúc đó trong thâm tâm ông cùng các cấp chỉ huy SD đều tin tưởng V4CT có các SD7, 9, 21, Thiết Kỵ, BDQ, Pháo Binh và nhất là các Liên Ðoàn ĐPQ, các Liên Ðội NQ thiện chiến dũng cảm, nồng nàn yêu nước, giống như các cấp tướng lãnh Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Trần văn Hai.. thì QLVNCH có thể cố thủ cầm cự vài tháng chờ quân viện.

Sáng ngày 30-4-1975, SD18BB chuyển quân nhưng không thể giật sập cầu xa lộ. Gần trưa, khi đoàn quân tới Cầu Sơn, thì dài phát thanh qua giọng Nguyễn Hữu Hạnh kêu gọi QLVNCH, tuân hành lệnh của Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh buông súng đầu hàng VC. Tin trên khiến cho lính tráng khóc lóc, nhiều người đập gãy súng hay bắn điên cuồng vào VC, khiến nhiều kẻ thương vong. Lúc bấy giờ theo ông còn một Trung Ðội nhưng Tướng Ðảo cho mọi người tan hàng, riêng ông về nhà của Mẹ thay đồ rồi trốn xuống V4, nhưng tại đây đại cuộc đã định khi Dương văn Minh đầu hàng giặc. Các Tướng Nam, Hưng, Hai vì thi hành kỷ luật quân đội đã tự sát làm rạng danh kỷ cương của một quân đội nhân bản, vì tổ quốc, danh dự, trách nhiệm. Ông trở lại Sài Gòn ngày 9-5-1975, ra trình diện và lãnh án mười bảy năm tù.

– Ngày Quốc Hận 30-4-1975:

Giờ cuối cùng bổng tới như trời sập nhưng vẫn còn một số lớn đơn vị Dù, TQLC, BDQ, LLDB… bất tuân lệnh của Dương văn Minh, chận đánh VC khắp các ngả đường dẫn tới Dinh Ðộc Lập, nơi Tổng Thống và Chính Phủ hai ngày đang chờ đầu hàng. Theo Nguyễn khắc Ngữ trong NGCCCVNCH, nơi trang 385, ghi lại những cái hèn của đám xôi thịt, trước bọn cán binh vào ngày 2-5-1975 như sau: “Minh nói là công dân một nước VN, đất nước được GIẢI PHÓNG, tôi rất vui mừng. Huyền nói tôi vui mừng khi thấy DÂN TỘC được giải phóng. Riêng tên Nguyễn văn Hảo, kẻ đem 18 tấn vàng của Ngân Hàng QGVN dâng cho Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, nói tôi nghĩ đây là một ngày LICH SỬ, Hảo hiện ở TX, Hoa Kỳ…”

” Sài Gòn đã chết lúc 12 giờ 30, dân chúng hờ hững nhìn chủ mới và những con khỉ người sút chuồng , quàng khăn đỏ, tay cầm cờ máu, võ trang súng đạn lượm được của lính quăng khắp đường, cỡi xe Jeep, la ó muá rối khắp thành phố. Ðồng lúc có 125 nhà báo Tây Phương cũng chen lấn đi xem Bộ Ðội Giải Phóng Miền Nam, mà bấy lâu nay họ hết lòng ca tụng , chỉ vì có thành kiến với QLVNCH, nhờ vậy phe ta mới té ngửa ra khi xác nhận tất cả đều là BỘ ÐỘi BẮC VIỆT. Trên tờ Los Angles Times, ký giả Norman Pohrets nói Nam VN mất không do bất mãn nội bộ mà là sự xâm lăng của Bắc Việt. Một nữ ký giả Pháp Brigitte Friang mai mỉa rằng trưa 30-4-1975, xe tăng cộng sản vào Sài Gòn, thành phố đã chết, chỉ có lũ con nít và 125 nhà báo.

Giặc cướp gọi ta là ngụy thì có chi là lạ nhưng nỗi đau nhức nhối trong đời trai kiếp lính của những thanh niên thời đại, là bị Dương văn Minh cùng đám phản tặc VNCH bán đứng để chúng đổi chút hư danh. Cuối cùng còn nước thì còn tất cả, mất vào tay cộng sản rồi ai cũng trở thành cánh lục bình trôi giạt muôn phương… Cũng may tuyệt đại dân chúng miền Nam sau giấc trầm kha máu lệ, đã nhận diện rõ những bộ mắt khả ố trong chốn tam quân và gọi đích danh Hà Nội mới chính là những tên lính tiền phong đánh thuê cho Nga, Tàu Xã Hội Chủ Nghĩa.

Ba mươi tám năm qua, người Việt thông thái có biết có không, có đi lính hay suốt đời mang áo cạo đầu trốn lính, đã thi nhau múa bút viết hồi ký và lịch sử chiến tranh VN dựa vào núi tài liệu trong các thư viện mà đa số là của ngoại quốc và VC. Thời chiến VNCH làm gì có nhà văn nhà báo, nhà trí thức viết những dòng khen lính nhưng chuyện Tướng Nguyễn Ngọc Loan can đảm phi thường, đã bắn chết tên Bảy Lốp tại ngã ba vườn Lài. Ðây là một tên VC khát máu và ác ôn nhất trong trận Mậu Thân tại Sài Gòn. Chuyện bắn VC giết hại dân lành trên bị tên ký giả Eddie Adams chụp hình và phóng ảnh khắp thế giới. Thế là báo ta, báo giặc hùa với hệ thống truyền thông thân cộng và đám phản chiến Hoa Kỳ làm lớn chuyện mà vô duyên nhất là hai tên dân biểu đảng dân chủ Mỹ lúc đó là mụ Elizabeth Holtzman và chàng Harold Sawyer nộp đơn kiện giùm Bảy Lốp và đòi Hoa Kỳ trục xuất Tướng Loan năm1976 nhưng vô hiệu.

Cũng may trong cái núi rác sách báo này , tìm mãi chẳng thấy một trang nào viết về VNCH bán Cam Ranh hay đất đai cho Mỹ, cũng chẳng có ai nói các tướng lãnh VNCH bị tù ngoài Bắc, đầu hàng hay làm nhục quân đội vì sợ chết, sợ đói hay hám danh bị dụ dỗ. Những nhà viết sử chỉ mai mỉa cái đám Từ Hải tân thời ngơ ngơ ngáo ngáo, ông ông con con trước Nam Long, Công Trang, Bùi Tín và cái đám bộ đội mén thuộc lữ đoàn thiết giáp 203 Bắc Việt là Bùi văn Tùng, làm mất hết thể thống của con người đã một thời làm trùm cả nước. Tất cả cũng là ý trời, Sài Gòn tự thất thủ nên quần chúng không tổng khởi nghĩa, bởi vậy quân Hồ không còn lý do gì để tàn sát và tắm máu miền Nam như đệ tử ruột của Hồ Chí Minh là Polpot đã làm tại xứ chùa Tháp.

Hơn nửa theo dự đoán của văn hào Nga lưu vong Soljenitsyne, nếu ra tay khủng bố trắng trợn, chưa chắc tập thể QLVNCH chịu bó tay chờ chết, nên đảng ta bèn giã ơn nhân đạo, chỉ TẬP TRUNG HỌC TẬP CẢI TẠO rồi về. Biết trước sự tàn ác của bọn thắng trận chiếm đóng qua dòng Việt sử , nên người miền Nam nô lệ, giả bộ vồn vã miễn cưỡng giao tiếp vơí giặc bắc, nhận chúng là đồng bào, cũng như thái độ giả ngộ hăng say ghi danh học tập của quân công cán cảnh. Tất cả chỉ vì thời thế phải thế thời, nên ai cũng nén nhục giữ mạng, chờ ngày theo gót Hưng Ðạo, Lê Lợi, Quang Trung .. đánh đuổi giặc Hồ, quang phục đất nước.

Nay thì cả nước VN chẳng riêng gì lính, trừ ai may mắn chạy kịp, đều ít nhiều nếm mùi cải tạo, tẩy não, nhồi sọ con người. Nói chung mục đích của cộng sản Hà Nội bắt VNCH học tập là để hăm dọa trấn áp người dân bình thường, hạ nhục trả thù người lính. Học tập quần chúng khác cải tạo trí thức, cho nên cùng là cải tạo, tướng lãnh khác cấp tá, uý.. Bởi vậy đừng lấy ta suy bụng người, vì trong cái thiên đường xã nghĩa và chốn bụi hồng , thấy vậy mà không phải vậy, cay đắng và tủi nhục hằng hằng bao chục năm chưa đủ sao hỡi trời ? Hơn nữa với bản chất bạo ngược, nói láo và bêu xấu những thần tượng của VNCH đã và đang được quần chúng trong ngoài nước kính trọng, thì cái chuyện vu vơ chê ghét nay còn mấy ai tin, sau khi đã biết qua những hình ảnh khủng khiếp của tù nhân khi đọc Quần đảo Goulag mà văn hào Soljenitsyne diễn tả.

Máu bắt đầu đổ lại từ những ngày lọan lạc, hoà bình tháng 5-1975, không biết Dương văn Minh có trình diện VC hay không nhưng tại trụ sở Hạ Nghị Viện đường Tư Do, Lý Quý Chung qua cái gọi là Tổng Trưởng thông tin 2 ngày đến trình diện đầu tiên. Sáng đó y mặc đồ lớn có mang súng lục và đã để lộ bộ mặt vô liêm sỉ cùng tận khi bị tên VC trong cái Uy Ban quân quản Sài Gòn chất vấn, sợ đến nỗi phải vấp té trên sàn nhà trước đông đủ các phóng viên ngoại quốc (NNCCVNCH của Nguyễn khắc Ngữ, trang 386).

Riêng tướng lãnh và cấp tá VNCH ngày 8-5-1975 trình diện tại Viện Dự Bị Ðại Học Sài Gòn số 91 Trần Hoàng Quân. Ngoại trừ tướng Nguyễn văn Vỹ bị bệnh nặng, tất cả bị giữ lại để học tập đợt 1 tại Ðại Học Xá Minh Mạng, Chợ Lớn. Sau đó 27 tướng ra trình diện và tướng Lý Tòng Bá bị bắt tại Củ Chi được giam chung tại TTHL Quang Trung. Cũng tại đây còn có đông đảo sĩ quan các cấp. Rồi thì các tướng được đưa ra Bắc bằng máy bay, các cấp còn lại đi tàu thủy, xe lửa nhưng dù đi bằng phương tiện gì, thì cũng gặp nhau tại các tầng địa ngục trần gian ở thượng du Bắc Việt : Yên Bái,Lào Cai, Hà Giang, Hà Tây, Nam Hà, Thanh Nghệ.

Những người quen sống ngoài đời nên chưa biết những gì thật sự có trong nhà tù, nhất là nhà tù cộng sản. Ðây là một xã hội thu hẹp, chung quanh là rào gai mìn bẩy, họng súng và cái tâm địa lang sói của bọn cai tù. Ðây cũng là một trường học để chung quanh lột trần muôn mặt, hoặc tự ta nhưng phần lớn đều do cộng sản gài đặt. May mắn thay trong cái thế giới ti tiện, bẩn thỉu, ngoài một số ít không chịu nổi đã chết vì cúi đầu. Tuyệt đại tù nhân VNCH đã ưỡn ngực bước ra địa ngục, họ không hề bị cải tạo, tẩy não nhưng họ học được trong chốn lao tù sự chịu đựng để coi thương tủi nhục, cay đắng và tình thường đồng đội đồng bào.

Ðâu có ai ngu để ở tù trừ khi vạn bất đắc dĩ. Bởi thế tù ngục không bao giờ là nơi để khoe thành tích rồi vu cáo cho kẻ khác là thua mình, là đầu hàng giặc trong khi mình chưa chắc có ở tù hay không. Các vị tướng lãnh VNCH trong đó có tướng Lê Minh Ðảo và gần hết quân công các cấp VNCH đã làm hết nhiệm vụ đời trai, nghiệp lính. Họ là trí thức, sĩ phu, là anh hùng trong lòng dân tộc đáng kính trọng và thương quý, cho nên ta cũng đừng đòi hỏi gì hơn, bởi họ đã làm hết sức mình rồi.

Thật thắm thía biết bao qua lời tâm tình của tướng Lê Minh Ðảo tại Nam CA, trong lần hội ngộ đầu tiên với các quân nhân cũ của SD18BB sau cuộc bể dâu. Ông nói “ nếu có kiếp sau, chỉ xin được tiếp tục làm người lính VNCH”.

Mường Giang

BOX:

Tướng Lê Minh Đảo là một cựu Thiếu tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được đánh giá là một trong những tướng lĩnh chỉ huy cấp sư đoàn xuất sắc nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, từng được mệnh danh là “Người hùng Xuân Lộc”, khi là chỉ huy trưởng của Phòng tuyến Xuân Lộc, phòng tuyến cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa trước khi ông Dương Văn Minh ra lênh cho toàn Quân-Lực đầu hàng.

Ông sinh ngày 5 tháng 3 năm 1933 tại xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định trong một gia đình đông con, từ nhỏ, ông có tiếng học giỏi, từng theo học tại trường Lycėe Pėtrus Ký Sài Gòn, năm 1953, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, do có trình độ Tú tài 2, ông được cử theo học khóa 10 Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt (còn gọi là khóa Trần Bình Trọng). Ông tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy tháng 6 năm 1954; do có thành tích học tập tốt (hạng 18/400), ông được giữ lại Trường để làm chỉ huy và hướng dẫn các khóa sinh của những khóa học kế tiếp, khi Việt Nam Cộng hòa thành lập, ông ở lại phục vụ và được chọn du học lớp Huấn luyện viên tại Trường Võ bị Lục quân Fort Benning, Georgia, Hoa Kỳ.

Ông được xem là một học viên toàn diện, có thể tự lái trực thăng và làm hoa tiêu phụ bay đêm, sau khi mãn khóa, ông về nước và được thăng Trung úy tháng 6 năm 1956, tiếp tục làm cán bộ và huấn luyện viên của Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt.