LTS: Nhà văn Hoàng Hải Thủy, hay Công Tử Hà Đông là nhà văn từng ghi dấu ấn sâu sắc trong văn đàn Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Sang đến Mỹ ông tiếp tục viết và xuất bản nhiều tác phẩm. Ông cũng là cây bút quen thuộc của Sài Gòn Nhỏ suốt từ khoảng 20 năm trước, với tên mục “Viết Ở Rừng Phong” ký tên Công Tử Hà Đông, mãi đến 2017 vì sức khỏe ông mới ngưng cộng tác. Nhà văn Hoàng Hải Thuỷ vừa qua đời lúc 11 giờ 20 phút tối Chủ Nhật, 6 Tháng Mười Hai, 2020, tại bệnh viện Virnia Hospital Center, tiểu bang Virginia, vì tuổi già, hưởng thọ 87 tuổi để lại khối tác phẩm đồ sộ với đủ thể loại lên đến hàng ngàn. Sài Gòn Nhỏ xin trích đăng lại một phần bài viết của ông như nén hương kính tiễn biệt nhà văn đã ra đi nhẹ như chiếc lá phong cuối mùa.

đợi bạn

Nửa khuya đợi bạn từ xa tới
Cửa mở cầu thang để sáng đèn
Bạn tới lúc nào không biết nữa
Mưa thả đều trên giấc ngủ đen

Thơ Mai Thảo. Tôi không phải là người bạn Mai Thảo mở cửa sẵn, để đèn sáng ở cầu thang, chờ đến vào lúc nửa đêm, song cũng có một lần tôi đến với Mai Thảo ở căn phòng ấy. Tôi đã lên cầu thang ấy, đi vào khung cửa ấy trong một ngày Tháng Chạp năm 1994 — những ngày như lá, tháng như mây. Thơ Thanh Nam — thời gian thấm thoắt đã 20 năm. Ngày ấy vợ chồng tôi đến Hoa Kỳ được một tháng, một số bạn tôi giúp phương tiện cho chúng tôi sang thăm Quận Cam, Cali, thủ đô của người Việt tị nạn ở Hoa Kỳ.

Tôi đến gặp Mai Thảo trong căn phòng anh ngụ sau tiệm ăn Song Long. Cầu thang gỗ, phòng nhỏ, một bàn, một ghế, một giường. Cái giường — như giường nhà thương — chỉ nằm được một người. Tôi ăn bữa trưa hôm đó với Mai Thảo ở Song Long. Và đó là lần cuối cùng tôi gập mặt Mai Thảo.

Sáng mùa hạ nắng vàng ở Rừng Phong, tôi muốn viết về những bài thơ tứ tuyệt của Mai Thảo. Như bài “Ðợi bạn” trên đây. Tôi vẫn kính mộ Thơ Ðường Tứ Tuyệt, tôi vẫn nghĩ chẳng có người nước nào làm Thơ Tứ Tuyệt có thể so sánh với Thơ Ðường Tứ Tuyệt, nhưng hôm nay tôi so sánh bài Tứ Tuyệt “Ðợi bạn” của Mai Thảo với bài “Ước khách” của Triệu Sở Tú đời Ðường.

Ước khách

Hoàng mai thời tiết gia gia vũ
Thanh thảo trì đường xứ xứ oa
Hữu ước bất lai qua dạ bán
Nhàn sao kỳ tử lạc đăng hoa

Thơ dịch của Nguyễn Bính

Khách hẹn

Ao hồ tiếng ếch gần xa
Mai vàng tiết lạnh nhà nhà hoa rơi
Nửa đêm cái hẹn qua rồi
Quân cờ gõ nhảm làm rơi hoa đèn.

Cùng cảnh nửa đêm đợi bạn, Triệu Sở Tú đợi bạn ở đời Ðường, Trung Hoa, cách nay hơn ngàn năm, Mai Thảo đợi bạn nửa đêm ở California, Hoa Kỳ, một đêm cuối Thế kỷ 20.

Ðợi bạn làm tôi xúc động hơn “Ước khách.” Mỗi bài hay một cách riêng. Không thể nói bài nào hay hơn, nhưng tôi nghĩ tôi có thể nói bài thơ “Ðợi bạn” của Mai Thảo hay ngang với bài thơ Ước khách” của Triệu Sở Tú.

Rất nhiều người viết tiểu thuyết tôi được quen biết trong thời trẻ tuổi của họ, thời họ mới viết, có làm thơ. Khi trở thành người viết tiểu thuyết chuyên nghiệp gần như tất cả những người này bỏ không làm thơ nữa. Tôi chắc Mai Thảo ở trong số người này. Anh chỉ làm thơ sau năm 1975.

Ðây là trường hợp Vật bất đắc kỳ bình tắc minh.” Ngắn gọn là “Bất bình tắc minh ” — lời Hàn Dũ trong Bài tựa Tiễn Mạnh Ðông Dã”

Trích Cổ Văn Trung Quốc, bài của Âu Dương Tu, Nguyễn Hiến Lê dịch.

Mọi vật hễ không được cái thế quân bình thì kêu lên. Cây cỏ không có tiếng, gió xáo động thì nó phát ra tiếng. Nước không có tiếng, gió trấn động thì nó phát ra tiếng; đập nó thì nó bắn vọt lên; ngăn nó thì nó chảy dồn lại; nấu nó thì nó sôi sùng sục. Kim, thạch không có tiếng, gõ nó thì nó phát ra tiếng. Người, xét về lời nói thì cũng vậy; có điều bất đắc dĩ rồi sau mới nói: ca đó là có điều nhớ nhung, khóc đó là có điều buồn thảm…

Ngưng trích.

Hoàng Hải Thủy 1971

Ngàn năm trước Âu Dương Tu viết: “Không phải thơ làm cho người ta khốn cùng, chính vì có khốn cùng rồi thơ mới hay.” Không hẳn là một định luật đúng trăm phần trăm nhưng thường là như vậy. Mai Thảo có danh văn sĩ ngay từ những năm 1955, 1956 với Ðêm Giã Từ Hà Nội, Tháng Giêng Cỏ Non, rồi chủ trương Tạp chí Sáng Tạo, viết và có sách xuất bản đều cho đến ngày 30 Tháng Tư 75. Rất có thể nếu không có Ngày 30 Tháng Tư 1975 và những đau thương do ngày đó gây ra, cuộc đời này đã không có bài thơ tứ tuyệt “Ðợi bạn” của Mai Thảo.

Những tháng đầu sau khi Bắc Việt Cộng vào Sài Gòn, Mai Thảo gặp Nhị Ca, một người bạn văn nghệ của anh năm xưa, nay là cán bộ văn nghệ quân đội Bắc Việt Cộng. Trong một cuộc gập ở nhà Duyên Anh, Nhị Ca nói với Mai Thảo:

— Trong những buổi nói chuyện về văn hóa, văn nghệ Sài Gòn tôi đều nghe họ kể tên ông đứng đầu nhóm văn nghệ sĩ phản động. Tôi sợ cho ông đấy.

Ba người tôi vừa nhắc đến tên: Mai Thảo, Duyên Anh, Nhị Ca nay đều không còn ở cõi đời này.

Sống lêu bêu suốt một năm trời trong thành phố cũ nay đầy cờ đỏ có lần Mai Thảo nói với tôi:

— Tao mà đến Mỹ được tao sẽ lên đài VOA tao nói tung hết. Ðâu có thể để chúng nó quên nhân dân Việt Nam Cộng Hòa như thế này được.

Tháng Ba năm 1976 Cộng sản Hà Nội tung ra chiến dịch bắt tù những văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa; chiến dịch này nằm trong Tổng Chiến Dịch Dẹp Bỏ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Chính phủ Giải Phóng Miền Nam. Mai Thảo không có số ở tù nên bọn Công An Thành Hồ rất muốn bắt anh mà không bắt được anh. Anh trốn lánh từ Tháng Ba 1976 đến khoảng Tháng Tư, Tháng Năm 1978 — hơn kém hai năm sống lẩn trốn và bị Công An Việt Cộng lùng bắt gắt gao ở giữa lòng Sài Gòn — anh mới vượt biên đi thoát.

Trong tập “Ta thấy hình ta những miếu đền” không thấy có bài thơ nào Mai Thảo làm ở Sài Gòn trong suốt ba năm trời thần kinh căng thẳng ấy, toàn là thơ làm trên đất Mỹ.

Nhà văn Mai Thảo

Bờ cõi khởi đầu

Sau những phố xá chập chùng tới những ngã ba nghìn phương. Sau những ngã ba viễn phương tới những tàng cây lục lục…

Tả cảnh trời đất Mỹ

Trên loài người cách biệt:

Phi cơ bay qua Hồ Lớn Michigan. Tám ngàn trên mặt biển. Phi cơ bay qua mõm biển Long Island..” Thơ Mai Thảo chỉ nói đến hiện tại, không vương vấn nhiều quá khứ. Cũng có nhưng chỉ thấp thoáng quê hương và mơ hồ thương nhớ như trong bài:

năm thứ mười

Nhánh hương thắp nửa này trái đất
Bay đêm ngày về nửa bên kia
Nửa đường hương gẫy trên nghìn biển
Rụng xuống mười xuân đã đứt lìa

cành

Cành đứt lìa mong ngày ghép lại
Vào thân hồng thủy ở rừng xa
Mười lăm năm chỉ niềm mong ấy
Cháy bỏng trên từng đốt ngón ta.

Tôi thấy mấy bài thơ tứ tuyệt của Mai Thảo đúng là tuyệt:

không tiếng

Sớm ra đi sớm hoa không biết
Ðêm trở về đêm cành không hay
Vầng trăng đôi lúc tìm ra dấu
Nơi góc tường in cái bóng gầy

trừ tịch

Bước một mình qua ngưỡng cửa năm
Nhân gian tịch tịch tiếng mưa thầm
Chợt đâu vẳng tiếng gà lai kiếp
Báo vẫn đêm dầy ở cõi âm

*

Thiên nhai phương thán dị hương thân
Hựu hướng thiên nhai biệt cố nhân
Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt
Túy tinh hà xứ các chiêm cân.
..

Thi sĩ đời Ðường tiễn biệt nhau nơi chân trời, nơi xứ lạ, nhưng dù là chân trời, dù là xứ lạ thì cái chân trời, cái xứ lạ ấy vẫn ở trong đất nước Trung Hoa của họ. Một ngàn năm sau thời Ðường, những thi sĩ Việt Nam tiễn nhau ở những chân trời, những quê người ở một đất nước xa sôi mãi bên kia biển, bên kia trái đất.

Nhà thơ Thanh Nam

Thanh Nam Trần Đại Việt, sinh ở Hà Nội, sống ở Sài Gòn, Việt Nam, chết ở Seattle, Hoa Kỳ, trong cuộc lưu lạc tha hương làm thơ tiễn bạn một đêm ở Seattle:

Uống say mai sớm bạn lên đường
Thân lại nương nhờ chốn viễn phương
Trăm hận nghìn đau nào sánh nổi
Tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương !

…..

Hãy uống cho say trời sắp sáng
Mai này hai đứa đã hai phương
Rồi đây hiu hắt thân bèo dạt
Trôi nổi quê người ai nhớ thương

Bài thơ dài 42 câu, trên đây tôi trích tám câu: bốn câu đầu, bốn câu cuối. Và đây là nguyên bài thơ:

Khúc ngâm trên đất tạm dung

Uống say mai sớm bạn lên đường
Thân lại nương nhờ chốn viễn phương
Trăm hận nghìn đau nào sánh nổi
Tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương
Ta như giông bão tan rồi hợp
Trôi dạt còn hơn sóng đại dương

“..Lận đận bên trời chung một lứa..”
Say càng chua xót, tỉnh càng thương
Tháng năm xa mãi thời hoa mộng
Râu tóc thêm gần với tuyết sương
Trên đất tạm dung, đời tạm trú

Còn gì ngoài mối hận mênh mang…
Tuổi già ví tựa thân tơ mỏng
Cuộc sống trăm cơn gió bạo cuồng !
Ôi bạn, ôi ta, chiều đã xế
Phù sinh thương mình ly rượu xuông.
Uống đi, uống cạn cơn cuồng nộ
Rót hết cho nhau những bẽ bàng…

Một góc Sài Gòn ngày xưa

Rót hết cho nhau những bẽ bàng
Những buồn cơm áo, nhục tha hương
Bốn năm đã thấm trò dâu biển
Một cõi lưu đầy rộn nhiễu nhương
Ác mộng không rời người biệt xứ
Quê xa còn ngút lửa hung tàn
Ði đâu hoặc có về đâu nữa
Cũng gái phong trần, trai gió sương

Thân ái nghìn trùng ..Ôi bạn hữu..
Uống cùng ta nhé rượu bi thương !
Ngục tù bỗng hiện qua màn lệ
Ðêm tối nào như thưở hỗn mang
Dằn chén, lòng đau, thương tích rợn
Gào trên da thịt xích siềng vang
Bàn tay bất lực che ngang mặt
Người ơi, người ôi, sao đoạn trường…

…..

Chim bỏ trời xanh đau cánh gẫy
Ngựa lìa chiến địa nhớ yên cương
Mượn men tủi hận làm phong vũ
Mơ thửơ đầu xanh dựng tuổi vàng.

…..

Hãy uống cho say, trời sắp sáng
Mai này hai đứa đã hai phương
Rồi đây hiu hắt thân bèo dạt
Trôi nổi quê người ai nhớ thương ?

Thấm quá Thanh Nam ơi. Vì mày đã chết nên khi viết những dòng này tao định gọi mày là “bạn,” xưng “tôi,” nhưng tao nghĩ: lúc mình sống mình thân mật mày tao, tại sao khi mình chết mình lại gọi nhau là “anh tôi”? Bây giờ tao gọi mày là “bạn” cũng được thôi nhưng tại sao mình lại phải đổi cách xưng hô sang “bạn bạn, tôi tôi” chỉ vì một thằng đã chết, một thằng còn sống ? Ngày gập lại nhau mình sẽ mày tao mà !

Mày làm những lời thơ này năm 1979 — Năm 1979 tao đang nằm trong Nhà Giam số 4 Phan Đăng Lưu. Chiều nay mày đã về trong đất mười sáu năm, tao đọc thơ mày mà cảm khái, tưởng nhớ mày, thấy hiển hiện hình ảnh mày, tay cầm ly rượu, đứng cũng rung đùi; nhớ những lần chúng mình cùng Trịnh Viết Thành lên Quang Minh Ðỉnh, những đêm mưa mình ngồi uống bia 33 ở cái quán bên Chợ Ðũi… Sài Gòn… Ngày xưa..

Trịnh Viết Thành đi tù hơn mười năm, từ trại Lao Cải Xuyên Mộc mang thân tàn trở về nhà in Nam Sơn đường Nguyễn An Ninh, đã chết năm 1991.

Thanh Nam ơi.. Thơ mày thât hay, thật thơ, làm tao cảm động. Ôi… Những buồn cơm áo, nhục tha hương. Mày đi trước 30 Tháng Tư 1975, mày còn may mắn, ít nhất cũng may mắn hơn tao. Ði thoát hay kẹt lại chúng mình cùng chung cái nhục bại trận, nhục bỏ chạy, nhục đầu hàng. Tao kẹt lại tao chịu cái nhục cúi mặt trước kẻ thù, và sau mày đến hai mươi mùa lá rụng tao theo mày chịu cái nhục tha hương. Ở xứ người bốn năm mày thấm trò dâu biển, hôm nay tao đã ở xứ người bẩy năm!

Mời bạn cùng tôi đọc Thơ Tứ Tuyệt của Thanh Nam:

Mộng cũ

Nửa khuya nghe động tiếng mưa buồn
Mái lạnh hiên người giọt giọt tuôn
Chăn gối bỗng thơm mùi dĩ vãng
Dịu dàng mộng cũ ghé môi hôn.

Thanh Nam thường làm những bài thơ dài. Hai bài thơ nổi tiếng nhất của anh là hai bài Hành: Bài Hành đón tuổi Bốn Mười — làm năm 1970 ở Sài Gòn — và bài Thơ Xuân Ðất Khách — làm năm 1977 ở Seattle, Hoa kỳ. Thời gian sống ở Sài Gòn tôi có được đọc Thơ Xuân Ðất Khách nhưng không trọn bài. Hai muơi năm sau bánh xe tị nạn đến Mỹ Quốc tôi mới có tâp Thơ Xuân Ðất Khách của Thanh Nam. Trong tập chỉ có ba bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Tôi vừa kể một bài, tôi sắp kể bài thứ hai. Tôi không biết bạn có cảm nghĩ gì, tôi thấy Thơ Tứ Tuyệt của Thanh Nam, như Thơ Tứ Tuyệt của Mai Thảo, thật tuyệt:

Thư nhà

Tuyết đổ dầy thêm, đêm lạnh buốt
Người về phòng nhỏ bóng cô đơn
Mở chai bia lạnh thay cơm tối
Ngồi đọc thư nhà giọt lệ tuôn.

Công Tử Hà Đông (Viết Ở Rừng Phong)