Song Thao

Thông thường ra thì chúng ta có một vợ một chồng. Ông nào có hơn con số trên là chuyện đáng tự hào. Vậy thì muốn cho sự việc cân cái thì các sản phụ phải tạo thăng bằng: có một thằng cu phải có một cái hĩm. Nhưng chuyện cân đối này không bao giờ có. Các bà cứ nhắm mắt sản xuất, bất cần thằng hay con. Từ đó nảy sinh ra chuyện thừa thiếu. Các bà gây ra nhưng lỗi tại các ông. 

Trời đã sinh ra sự phối hợp giữa trứng và tinh trùng để tạo ra một sinh linh trên cõi đời. Sinh linh đó có thể là nam hay nữ. Mà nam hay nữ là do cái con loăng quăng của các ông có nhiễm sắc thể X hay Y. Trứng của các bà luôn giữ vững lập trường chỉ có X.  Nếu X của các ông gặp X của các bà thành XX thì lòi ra thị mẹt. Nếu Y của các ông hội ngộ với X của các bà thành XY thì ra thằng cu. Vậy trăm tội đều do các ông. Ý trời là half and half cho cân xứng nhưng chẳng hiểu các ông làm ăn lóng ngóng ra sao để chẳng bao giờ có con số cân đối cả. Tội rành rành mà còn đổ hô các bà không biết nặn cho ra thằng cu nối dõi tông đường. Đổ tội xong hân hoan kiếm bà khác với hy vọng bà này biết sanh tốt hơn!

Đám cưới tập thể mùa dịch Covid-19

Hai nước có số dân đông nhất địa cầu là Trung Quốc và Ấn Độ mất cân xứng nặng nề. Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc thì tại Trung Quốc, vào năm 1989, tỷ lệ sinh trai gái là 111 đực rựa trên 100 bé gái. Tới năm 2000 cán cân trai gái nghiêng mạnh hơn: 117/100. Nghĩa là thừa đứt đi 17 anh. Nghe ra con số này không lớn nhưng tính trên dân số thì không nhỏ. Theo con số thống kê của bộ Nội Vụ Trung Quốc thì hiện nước này có 240 triệu người độc thân. Dự báo đến năm 2030 thì 33, 3% số đực rựa trong nước sẽ bơ vơ, chẳng thể có được một cô vợ cho ấm giường.

Ấn Độ khá hơn chút đỉnh. Năm 1991, tỷ lệ trai gái là 106/100. Tới năm 2001 tăng lên thành 108/100. Theo kết quả điều tra dân số vào năm 2005 thì đất nước cà-ri có 566 triệu đàn ông so với 536 triệu các bà. Chênh lệch 30 triệu. Các anh đực rựa tại hai nước đông dân này sẽ chẳng chịu ngồi yên. Họ sẽ xông pha vượt biên tìm cái gối ôm. Thế giới sẽ náo động vì tranh chấp “tài nguyên”.

Việt Nam ta, với dân số 86,5 triệu người, đứng hàng thứ 13 trên thế giới. Năm 1979, tỷ lệ sinh trai gái là 105/100. Hai chục năm sau, năm 1999, tỷ lệ này tăng lên thành 107/100. Năm 2006, tăng nữa, 110/100. Năm 2007, lại tăng, 112/100. Đó là số liệu do Tổng Cục Dân Số và Kế Hoạch Hóa Gia Đình đưa ra tại hội nghị chuyên ngành được tổ chức tại Sài Gòn vào ngày 12/11/2008. Theo tính toán của Tổng Cục này thì tới năm 2030 sẽ có khoảng 3 triệu anh đực rựa không tìm ra được vợ. Hiện Việt Nam là quốc gia duy nhất trong nhóm 15 quốc gia Đông Nam Á có tình trạng mất quân bằng giới tính nặng nề nhất.

Đó là sự chênh lệch tự nhiên do trời đất tạo nên. Sự chênh lệch này đã ngược lại trước đây, khi chiến tranh còn tràn lan trên đất nước. Miền Bắc, kẻ gây chiến, đã đưa hầu như toàn thể thanh niên vào tham chiến ở miền Nam khiến có nạn gái thừa trai thiếu. Trong cuốn truyện dài “Chốn Vắng” của Dương Thu Hương, bà kể chuyện anh chàng thợ chụp hình cà thọt, không phải đi B, làm mưa làm gió giữa bầy con gái thiếu trai. Nhà cầm quyền, chẳng biết có phải muốn giải quyết tình trạng trai thiếu gái thừa hay không, mà cổ động phong trào lấy phế binh. Họ tập trung các cô gái lại cùng với những chiếc cáng của các phế binh nằm như bất động. 

Đây là đoạn nhà văn Dương Thu Hương viết về nhân vật tên Hiền nhận “chồng”. “Dạ…Em vui lòng…” Miên thấy chị lắp bắp đáp lại. Sau đó người ta khiêng cáng lên một chiếc xe jeep. Hiền dắt Miên theo. Chiếc jeep đưa họ về tận làng. Người phế binh đã tháo khớp hai bên háng và cánh tay trái. Tay phải cụt tới nửa cùi chỏ. Anh giơ chiếc cùi chỏ ấy lên, lúc chạm vào Hiền, lúc chạm vào Miên, thay cho cử chỉ vuốt ve hoặc tỏ bày tình thân thiện. Trên chuyến xe đó, họ mới nói với nhau những lời đầu tiên. Kỷ niệm tuy xa nhưng chẳng phai mờ. Cho tới ngày cha mất và mấy chị em phải rời xa làng ra đi Miên thường vẫn sang chơi với Hiền. Người con gái ấy đã chấp nhận cuộc sống lứa đôi theo tinh thần tuẫn đạo: “Này Miên, hôm nay anh ấy đã ăn được bát cơm. Khi nào anh ấy ăn thêm được lưng cơm nữa là chị yên tâm. Ông lang bên xã Lý Hòa chiều qua sang chơi thăm bệnh bảo chị rằng cái đó còn nguyên. Mai rày chị cũng kiếm được đứa con”. Một lần Hiền mừng rỡ khoe với Miên như thế. Lúc ấy, Miên còn nhỏ, chị chưa thể hiểu rõ tường tận câu chuyện giường chiếu của Hiền. Sau này, tưởng tượng tới cảnh ấy, Miên vẫn thường rùng mình xót xa cho người hàng xóm”.

Trong Nam, những trang thanh niên khoác chiến y giữ làng giữ nước, chẳng phải đi chinh chiến nơi xa như thanh niên miền Bắc, nên chuyện vợ chồng không long đong vất vả nhiều. Các binh sĩ vẫn lập gia đình, vẫn có thể sống với vợ con trong các trại gia binh. Tuy nhiên cuộc chiến tự vệ cũng mang lại những mất mát, bỏ lại những người vợ trẻ, những góa phụ tuổi đời chưa bao nhiêu. Nhà thơ Trần Mộng Tú là một góa phụ như vậy. Khoảng lễ Phục Sinh, tháng 4 năm 1969, chị lập gia đình. Chỉ chừng ba tháng sau, ngày 30 /7, anh nằm xuống. Chị được tin khi đang xem những tấm hình chụp đám cưới được mang sang Mỹ rửa vừa được gửi về. Trên mộ chồng, chị ghi bốn câu thơ:

áo cưới chàng may còn mùi vải

rượu hồng thiếp uống còn cay môi

xa nhau một phút ngàn thu vắng

nỗi buồn này biết làm sao nguôi

Chiến tranh qua đi. Như một cơn ác mộng không nên có. Chiến trường trả về những trang thanh niên phần nhiều còn lơ ngơ một mình. Tỷ lệ trai gái đảo ngược lại. Trai thừa gái thiếu. Thiếu một phần vì lẽ tự nhiên nhưng phần khác vì chúng ta mất đi “tài nguyên” khan hiếm này. Đất nước sau chiến tranh được trao vào tay những người thiếu khả năng điều hành. Cuộc sống của dân chúng lầm than. Toàn dân trần thân chịu cảnh thiếu cơm thiếu áo. Những quốc gia có cuộc sống sung túc hơn đã vớt đi những thiếu nữ tới tuổi cập kê về cho những thanh niên đang cần vợ của họ. Vậy là có cả một phong trào rộng lớn “xuất cảng” gái Việt. Đài Loan, Trung Quốc, Đại Hàn là những chỗ trũng cho dòng nước “cô dâu” Việt tràn vào.

Theo thống kê của bộ Công An Việt Nam, từ năm 2008 đến nay, trung bình mỗi năm có khoảng 18 ngàn công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Khoảng 78% phụ nữ kết hôn với ngoại nhân có hoàn cảnh gia đình nghèo khó, trình độ học vấn thấp và không công ăn việc làm.

Một thiếu nữ người Việt trên đồng lúa (ảnh minh họa)

Trong các bài báo trong nước, những cô gái lấy chồng nước ngoài vì kinh tế này được gọi là “cô dâu”. Tôi thấy cách dùng từ này không chính xác. Những người con gái khốn khổ này đâu có lấy chồng, họ bán mình để tìm một tương lai sáng sủa hơn, ít nhất thoát được tình trạng nghèo đói cho chính họ và hy vọng cứu vớt gia đình họ. Có hai ổ “cô dâu” chính, một ở ngoài Bắc và một ở đồng bằng sông Cửu Long.

Riêng khu vực đồng bằng sông Cửu Long, trong 10 năm, từ 2008 đến 2018, có tới 70 ngàn phụ nữ lấy chồng nước ngoài. Cù lao Tân Lộc, Thốt Nốt, Cần Thơ, là nơi có nhiều cô gái đẹp, nay đã trở thành “Đảo Đài Loan” và “Đảo Hàn Quốc”. Nhà báo Phạm Ngọc Dương kể lể sự tình: “Phải nói rằng con gái cù lao Tân Lộc rất đẹp. Không hiểu đất đai màu mỡ, khí hậu mát lành thế nào mà cô nào cũng cao ráo, trắng hồng. Con gái cù lao Tân Lộc đẹp nổi tiếng đến nỗi mấy ông Đài Loan sang đây chỉ nhất nhất yêu cầu “cò” tìm vợ người Tân Lộc cho dù tốn kém thế nào. Thế nên, những ngày “sốt” gái lấy chồng Đài Loan, “cò” từ mãi Sài Gòn tìm về cù lao Tân Lộc đông lắm. Bức xúc trước tình trạng có thể hết nhẵn con gái, đám thanh niên Tân Lộc kéo ra đầu làng, ngay chân bến phà, gác từ sáng đến tối. Đám thanh niên tuyên bố, nếu có bất kỳ kẻ lạ nào bước chân lên cù lao sẽ đẩy xuống… sông”. Tôi muốn dừng lại ở chuyện cù lao Tân Lộc như một điển hình của phong trào lấy chồng Đài Loan và Hàn Quốc. 

Bảng quảng cáo mai mối kết hôn với cô dâu Việt. Ảnh: Elitestalk.

Chuyện thanh niên trong làng quyết giữ…bờ cõi là chuyện sống chết. Phóng viên Thái Bình của báo Công An Nhân Dân, khi về Tân Lộc làm tin, đã suýt bị xô xuống sông Hậu vì bị thanh niên trong làng tưởng là “cò”. Trước đây Tân Lộc được mệnh danh là “hòn đảo ngọt” vì nghề làm đường rất phát đạt. Thời hoàng kim, những năm 1993-1994, Tân Lộc đã có tới 240 cơ sở nấu đường,150 lò nấu rượu mật và cả ngàn mẫu đất trồng mía. Khi kỹ nghệ làm đường tại miền Nam tiến tới thời máy móc hiện đại hơn, Tân Lộc hỏng cẳng. Cả xã lao đao, 1500 công nhân lò đường thất nghiệp, máy móc thô sơ được bán tháo với giá sắt vụn. 

Cuối năm 1994, ông chủ lò đường tên Phương một thời làm ăn phát đạt nhất làng, mang nợ ngập đầu. Ông bỏ xứ lên Sài Gòn làm thuê làm mướn sinh sống và kiếm tiền trả nợ. Ông gặp một bà chuyên mối lái cho các cô gái lấy chồng ngoại quốc tỉ tê khuyên ông nên kiếm chồng ngoại cho bầy con gái đẹp đẽ của ông. Nghe bùi tai, ông về bàn với vợ và quyết định gả hai cô gái xinh đẹp cho trai Đài Loan. Người dân trong xã bất bình rủa xả ông mang con đi bán cho ngoại nhân. Ông cắn răng chịu nhục. Nhưng khi hai cô con gái gửi tiền về, ông phất lên, trở về Tân Lộc xây nhà lầu và hai vợ chồng hàng năm được qua Đài Loan thăm con, thì dân làng đổi thái độ. Cơn sốt lấy chồng Đài Loan lan lây nhanh chóng trong làng. 

Bà Đỗ Thị Thu cho biết từ khi con gái lấy chồng Đài Loan, vợ chồng bà thường xuyên được qua đó đi du lịch. (Hình: VietNamNet)

Từ năm 1995 đến 2005, mỗi năm có tới vài chục cô gái lên…máy bay hoa về nhà chồng nơi xứ sở xa xôi. Năm cao điểm có tới 130 cô rời xóm làng. Đài Loan là đất…khởi nghiệp nên tính đến nay đã có 700 cô đi Đài Loan. Ngoài ra gái xinh Tân Lộc đã được tung ra Hàn quốc, Trung quốc, Mỹ, Canada, Bỉ, Áo, Pháp, Nhật. Thiệt là một làng quê quốc tế! Các cô tấp tểnh tự bán mình hăng say đến nỗi có nhiều trường hợp dở khóc dở cười. 

Phó Công An xã Tân Lộc, anh Lê văn Út, kể lại một trường hợp. Bé Trần Thị Kim Xuân, cư ngụ tại ấp Phước Lộc, được cha mẹ dẫn tới trụ sở công an để xin giấy xác nhận hầu có thể xin hộ chiếu ra nước ngoài. Xuân có thân hình phốp pháp, phổng phao, xinh xắn, nhưng mặt non choẹt. Thấy nghi, công an mở cuộc điều tra. Kết quả cô bé mới 14 tuổi nhưng cha mẹ lấy giấy khai sinh của cô chị 18 tuổi đã có chồng và hai con tráo cho cô em. Chuyện công an điều tra ra thì đã muộn. Trước đó, cha mẹ bé Xuân đã đưa con lên Sài Gòn tổ chức đám cưới với một ông Đài Loan đã 60 năm cuộc đời. Cả hai đã hưởng trăng mật đã đời. Nhưng chuyện lên máy bay về xứ lạ bị khựng lại khi có kết quả điều tra. Mụ cò Nguyễn thị Mạnh bị bắt giam. Bé Xuân bỏ nhà ra đi biệt xứ. Cha mẹ em trách cứ công an đã ngăn cản con đường…tình của con gái khiến gia đình tan nát. Nhưng không biết vì sao cái tan nát đó lại khiến cha mẹ em Xuân trả hết nợ, xây nhà khang trang, mua được ba chiếc xe máy, ti-vi, tủ lạnh, dàn âm thanh. Kể cũng ngộ!

Rao bán “cô dâu” Việt trên báo Trung Quốc (ảnh báo Thanh Niên)

Vựa xuất cảng cô dâu ngoài Bắc nằm tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Phóng viên báo Lao Động kể lại chuyến về vựa này. Anh phải nhờ Tuân, một thanh niên địa phương làm người dẫn đường. “Ngồi trên xe, Tuân vốn cũng có chút kinh nghiệm “chỉ chỏ, ong ve”, bắt đầu thể hiện một cách đầy thuyết phục những hiểu biết của mình trong lĩnh vực môi giới hôn nhân. Theo lời Tuân, những năm trước, cũng tại mảnh đất này rộ lên “phong trào” lấy chồng Đài Loan, Trung Quốc. Tuy nhiên, dăm năm trở lại đây, đường dây tuyển chồng Hàn Quốc đã “đánh bật” được các đường dây khác để vững vàng tạo thế độc tôn. Nhà nhà, người người hễ cứ nói chuyện nhà là nhắc đến rể Hàn. Có gia đình sinh được bốn cô con gái thì cả bốn lũ lượt kéo nhau làm dâu xứ người. Cũng vì lẽ đó, ở Thủy Nguyên có hai xã là Lập Lễ và Ngũ Lão có đến hàng ngàn rể ngoại mang quốc tịch từ xứ sở Kim Chi”. 

Các cô gái ứng tuyển được sống tại những khu nhà trọ do “cò” tổ chức. Nơi này được chia làm hai nhóm: nhóm đã “trúng tuyển” và nhóm đang chờ các đợt tuyển. Đám cưới được tổ chức tại Trung Tâm Tiệc Cưới Hồng Ngọc. Phóng viên báo Lao Động kể lại: “Cũng trong lần may mắn được lọt sâu vào “hang ổ” môi giới lấy chồng Hàn Quốc ấy, chúng tôi được mắt thấy, tai nghe những đám cưới kiểu chạy sô giữa những cặp đôi dâu Việt – rể Hàn. Cách không xa những căn chòi gỗ dành cho việc xem dâu, bước qua dãy hành lang dài đang lốn nhốn hàng chục cô dâu đến dự tuyển là một hội trường rộng lớn, sang trọng chuyên dùng để cử hành hôn lễ. Tại thời điểm chúng tôi có mặt, trên sân khấu, người dẫn chương trình đang oang oang tác thành cho một cặp đôi, ở phía dưới là ba, bốn cặp khác đang chờ đến lượt. Qua quan sát cho thấy, những lễ kết hôn đều có công thức chung và diễn ra theo cách không thể “bèo bọt” hơn. MC đứng trên sân khấu gọi đến tên cặp đôi nào thì cặp đó lại lục tục bước lên để chụp ảnh. Không sâm banh, không bánh ga-tô, không trao nhẫn cưới và cũng chẳng có đại diện hai họ phát biểu… Sau vài phút tạo dáng cho thợ ảnh tác nghiệp, hai người lặng lẽ bước xuống khu vực đã được bố trí sẵn để dành sân khấu cho đám khác. Mỗi đám cưới như vậy thường chỉ có khoảng từ hai đến ba mâm tiệc, chủ yếu là dành cho phía nhà gái”.

Đám cưới tập thể của các thiếu nữ Việt lấy chồng Hàn quốc.

Từ Nam chí Bắc, các thiếu nữ Việt bị xô đi lấy chồng xứ lạ như con nước cuồn cuộn xuôi dòng. Sinh xuất đã không cân bằng nam nữ khiến các thanh niên tới tuổi muốn vợ phải vất vả cạnh tranh, nay nguồn “tài nguyên” lại bị thâm hụt vì các anh chàng nước ngoài dùng tiền dẫn độ các nàng về nước, tương lai tối như đêm ba mươi. 

Ông Nguyễn văn Tân, nguyên Phó Tổng Cục Trưởng phụ trách về dân số và kế hoạch hóa gia đình, trong “Ngày Dân Số Việt Nam”, được tổ chức vào bữa 26/12/2019, đã cho biết là tới năm 2050, Việt Nam sẽ dư thừa khoảng từ 2,3 triệu tới 4,3 triệu thanh niên không có cơ hội kiếm được vợ. Nghe mà hết hồn. Có giải pháp nào cho đám con trai lẻ bạn này không? Có chứ! Chúng ta cũng nhập cảng cô dâu! Ông Nguyễn văn Tân phát biểu tại hội nghị: “Hiện Trung Quốc là thị trường nhập khẩu cô dâu lớn nhất Việt Nam, tại Đài Loan có tới hơn 130 ngàn cô dâu Việt, con số này tại Hàn Quốc là trên 85 ngàn. Nhưng đến chúng ta, nhập ở đâu, chưa nhìn thấy thị trường nào cả. Muốn mua phải có tiền mới mua được, nhưng gia đình bình thường lấy đâu ra tiền nên có người nói, có lẽ tương lai Việt Nam sẽ phải nhập khẩu cô dâu từ châu Phi!”.

Cũng là một giải pháp. Chúng ta đành bình tĩnh chờ ngày đất nước đổi…màu!

Song Thao 01/2021

Website: www.songthao.com