SONG THAO

Sau cuộc chiến là hòa bình nhưng sau cuộc chiến còn là đống rác. Rác vũ khí và các loại chiến cụ. Tiện hơn hết là cho chúng vào lò nung để tái chế các vật dụng khác. Cái nóng của lò nung cũng giống như cái nóng của chiến tranh, xóa tan đi những hãi hùng của cuộc chiến. Nhưng con người cũng có nhu cầu nhớ. Nhớ là một cách để học hỏi và rút kinh nghiệm. Nhớ có nhiều kiểu nhưng kiểu văn hóa nhất là biến những phế loại của vũ khí và chiến cụ thành một tác phẩm nghệ thuật ngợi ca hòa bình. Một trong những công trình nghệ thuật sau cuộc chiến là tượng Mẹ Maria Đồng Trinh “Blessed Virgin Mary”.

Bức tượng khá lớn. Cao 11 thước và nặng trên 3 tấn được đặt tại nhà thờ Our Lady of Peace ở Santa Clara, California. Dân ta ở San Jose chắc nhiều người đã được chiêm ngưỡng bức tượng này. Trong những lần tới Cali, tôi không nghe được chi về bức tượng nên không biết để tới viếng thăm. Nay, bó chân bó cẳng, chỉ được nhìn hình. Nhìn qua thì thấy tượng Đức Mẹ này cũng như những tượng Đức Mẹ khác, trái tim nằm lộ trên ngực để diễn tả tình yêu thương dành cho loài người. Nhưng nhìn hình chụp cận cảnh sẽ thấy khác. Toàn thể tượng có những đường dọc nho nhỏ trên áo của Mẹ Marie khiến chúng ta có thể nghĩ là những trang trí cho chiếc áo dài che kín từ cổ tới chân tượng. 

Bức tượng Đức Mẹ “Our of Peace” ở Santa Clara, California

Nhưng không phải. Những vết chạy dọc đó là những mảnh nhỏ ghép lại để cấu thành tượng. Tôi đã lặng người khi được biết đó là những mảnh ghép của hàng trăm ngàn mảnh thép trắng bạc, không hoen rỉ, được cắt ra từ thân các máy bay Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam trong thời gian từ 1965 đến 1975. Khi tàn cuộc chiến, những chiếc Skyhawk, F-100 Thunderbird, F-4 Phantom, F-111 Aardvark từng xoải cánh ở Việt Nam, được mang về Mỹ. Chúng còn bay bổng một thời gian cho tới khi hết hạn sử dụng, được chất trong các kho máy bay phế thải. Người có sáng kiến cắt vụn những chiếc máy bay đã từng chinh chiến này để tạo thành một tác phẩm nghệ thuật hòa bình là điêu khắc gia lừng danh thế giới Charles Parks.

Nơi đặt tượng là nhà thờ Our Lady of Peace do linh mục John Joseph Sweeney làm chánh xứ từ năm 1969. Vừa nhậm chức, cha Sweeney đã nhận thấy vị trí thuận lợi của giáo xứ nên muốn mở rộng thành một linh địa Đức Mẹ. Cha giải thích: “Có đứa con nào không đáp trả vòng tay rộng mở của người mẹ? Ngay đối với một người trưởng thành, nếu chịu khó nhớ lại những kinh nghiệm đầu đời, kinh nghiệm về sự tin tưởng, vòng tay rộng mở của người mẹ, tôi đoan chắc là không có chi quý mến bằng. Đó là sự thân cận với Thượng Đế”. Bức tượng, ngoài trái tim thương yêu, còn có vòng tay rộng mở của mẹ. Để có được bức tượng, cha Sweeney không quyên góp tài chính mà chỉ khuyên con chiên cầu nguyện. Từ năm 1976, khi cuộc chiến Việt Nam vừa tàn, cha đã cho tổ chức chầu Thánh Thể liên tục suốt ngày đêm. Cửa nhà thờ không khi nào đóng để giáo dân tới cầu nguyện.

Dù không chính thức lạc quyên tiền đúc tượng nhưng giáo dân khắp nơi vẫn gửi tiền về để sớm có tượng Mẹ. Nhờ lòng sốt sắng này mà việc đúc tượng bắt đầu vào năm 1980 và chỉ 2 năm sau đã hoàn tất. Tượng được rước đi nhiều giáo xứ để mọi người có dịp chiêm ngưỡng và cầu nguyện. Ngày 7/10/1983, tượng được chính thức an vị. Năm 2002, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã cám ơn cha Sweeney về công trình này và phong cha lên hàng Đức Ông. 

Từ chiến tranh tới hòa bình được thu gọn trong ba tấn thép của những chiếc máy bay đã gầm thét trong cuộc chiến Việt Nam, tượng Đức Mẹ ở linh địa Our Lady of Peace quả là một biểu tượng đầy ý nghĩa. Có điều hòa bình trong cuộc chiến trên quê hương chúng ta là một thứ hòa bình khập khiễng. Cái kết của cuộc chiến không thể là khởi đầu của hòa bình khi cuộc chiến được kết thúc bằng những dối trá, lừa lọc của cả đồng minh lẫn địch thủ của chúng ta. Kết quả là những ngày im tiếng súng là những thù oán chồng chất lên những chiến sĩ và dân chúng miền Nam. Hậu quả còn đè nặng lên dân chúng Việt Nam cho đến nay.

Quán cà phê “Yêu. Không chiến tranh” của anh Hè

Chiến tranh đã chấm dứt, chiến trường đã im tiếng súng nhưng trong lòng người dân Việt, chiến tranh vẫn còn là nỗi day dứt. Trên đường Lê Ngô Cát tại thành phố Huế có một quán cà phê được làm bằng phế liệu chiến tranh. Ký giả Bùi Ngọc Long đã tới thăm quán cà phê này. Ông kể lại trong bài “Quán Cà Phê Phế Liệu Chiến Tranh”: “Bước chân vào quán, ấn tượng đầu tiên đập vào mắt mọi người đó là dãy hàng rào được làm bằng dây kẽm gai với chiếc cổng là những thùng phuy được dựng chồng lên nhau. Ám ảnh của thời kỳ chiến tranh chưa xa nghe như vẫn day dứt đâu đó từ âm hưởng của những băng, đĩa nhạc cũ của Lệ Thu, Khánh Ly… Những chiếc mũ cối cũ rách, thủng mệt nhoài được móc trên hàng rào kẽm gai càng gợi thêm kí ức ám ảnh của chiến tranh.

Bên trong của không gian quán cà phê còn có một gian trưng bày bộ sưu tập gồm máy truyền tin, điện thoại, máy đánh chữ, thìa, muỗng, lon guigoz và cả thùng đựng nước được gò từ những vỏ bom napan vốn rất thông dụng trong các gia đình Việt Nam sau chiến tranh. Tất cả đều được làm từ phế liệu chiến tranh, nhưng công năng sử dụng của chúng đều hoàn toàn mới. Những thùng đạn được thiết kế lại để thành giá để sách, những vỏ pháo sáng được dùng làm đèn chiếu sáng, những vỏ đạn cũ biến thành những chiếc bình cắm hoa xinh xắn và những tấm ri lót đường và những két đạn được làm bàn ghế. Bảng hiệu của quán cũng được dùng những tấm gỗ sơn màu sẫm với những dòng chữ tiếng Anh và tiếng Việt với thông điệp: “Có đến 550 triệu khẩu súng đang lưu hành trên toàn thế giới. Tính ra cứ 12 người trên hành tinh này thì có một khẩu súng. Câu hỏi đặt ra là làm sao vũ trang để bảo vệ 11 người còn lại?”. Và câu trả lời là: “Make Love Not War”. Đó cũng là tên của quán cà phê độc đáo này”.

 Chủ nhân của quán cà phê hoài…chiến tranh này là họa sĩ Nguyễn Văn Hè. Tại sao anh lại thành lập quán cà phê níu kéo chiến tranh này, anh tâm sự: “Mình sinh ra ở vùng quê Phong Xuân (xã Phong Sơn, Huyện Phong Điền) là nơi hứng chịu nhiều hậu quả chiến tranh. Do có sở thích sưu tầm nên từ nhỏ mình đã để ý và nhặt nhạnh sưu tầm những mảnh bom, vỏ đạn, phế liệu chiến tranh. Đầu năm 2014, mình có ý định thuê một căn nhà vừa để ở vừa làm nơi sáng tác nên đã đi tìm kiếm nhiều nơi. Mãi khi đến đây, thấy không gian phù hợp lại có nhà vườn thoáng mát, không khí trong lành nên mình đã quyết định mở quán cà phê này”. 

Bàn ghế làm bằng phế liệu chiến tranh trong quán cà phê của Nguyễn Văn Hè

Anh Hè không cô đơn khi lập ra quán cà phê phế liệu này. Anh Thân Anh Hoàng Vũ ở Quảng Nam cũng sưu tập tàn tích chiến tranh. Anh la cà khắp những quận huyện ngày xưa súng đạn đùng đùng để lại nhiều tàn tích chiến tranh. Người dân đi lượm những tàn tích này đem về làm đồ dùng trong nhà. Anh len lỏi trong làng xóm nài nỉ mua lại. Tới nay anh đã thu thập được trên một ngàn phế tích của cuộc chiến. Năm 2018, anh tới huyện Tiên Phước, vào nhà một người dân, thấy có chiếc hộp quẹt zippo để trên bàn thờ. Anh hỏi mua, người chủ không bán, còn nói lại: “Những người sinh ra sau chiến tranh làm sao hiểu được đồ vật này!”. 

Quả thực anh sinh năm 1978, sau chiến tranh, nhưng anh đã nói không vấp váp chuyện chiếc zippo do lính Mỹ mang qua và được nhiều người sử dụng. Ông chủ nhà thấy anh thông thạo “lịch sử” của chiếc hộp quẹt máy lưu lạc sang Việt Nam nên đồng ý nhượng lại cho anh. Những đồ vật của binh sĩ sử dụng trong cuộc chiến được người dân rất quý trọng. Anh Vũ kể lại: “Có cái bi-đông  mà ba thế hệ trong một nhà sử dụng, hay là can đựng xăng dầu trong chiến tranh được hai thế hệ trong một gia đình dùng dựng nước. Đấy là những vật gắn bó với cuộc sống của họ nên giá trị tiền bạc không nói lên điều gì”. Anh đã có lần mua được những món đồ thân thiết với họ như vậy nhưng sáng hôm sau, họ tới gặp anh để xin lại vì không nỡ tệ bạc với những đồ vật thân thiết này. Gặp trường hợp này, anh sẵn sàng hoàn lại cho họ. Năm 2017, anh mở quán cà phê “Nhớ” để có dịp cho nhiều người được chiêm ngưỡng những kỷ niệm của cuộc chiến. Trong quán, ngoài việc trưng bày những phế tích chiến tranh, anh còn chế vỏ đạn thành những bình cắm hoa, treo trên tường những cây đèn dầu cũ. Anh nói: “Tôi trưng bày để mọi người tới và hiểu thêm về chiến tranh thông qua các đồ vật cụ thể và cũng là để chia sẻ đam mê của mình”.

Chiến tranh là chuyện liên miên trên thế giới. Hình như nhân loại chưa bao giờ được yên tĩnh. Súng không nổ nơi này thì tiếng gầm rú của chiến xa, chiến đấu cơ cũng gầm thét nơi khác. Và đâu đâu cũng có những nghệ sĩ dùng phế liệu của chiến tranh để cổ võ hòa bình. Cuộc nội chiến ở Mozambique xảy ra vào năm 1977, chỉ 2 năm sau khi Bồ Đào Nha trao trả độc lập cho đất nước này. Năm 1992, nội chiến mới kết thúc bằng một thỏa ước ngừng chiến sau 15 năm bắn giết giữa những người cùng chủng tộc. 

Tác phẩm“The Throne of Weapons” bằng phế liệu chiến tranh sau cuộc nội chiến tại Mozambique.

Khi im tiếng súng, điêu khắc gia Goncalo Mabunda, người có nhiều thân nhân bỏ mạng trong cuộc chiến, đã thu thập và hàn gắn các loại súng AK-47, hỏa tiễn và súng lục để tạo thành những tác phẩm đầy nhân bản. Tác phẩm của ông đã được trưng bày tại Hayward Gallery ở London, bảo tàng viện Museum of Modern Art ở New York và trung tâm Pompidou ở Paris. Một trong những người hâm mộ các tác phẩm của Mabunda là cựu Tổng Thống Clinton. Tác phẩm nổi tiếng nhất sau cuộc nội chiến là tác phẩm mang tên “The Throne of Weapons”, ngai vàng của vũ khí, của Cristovao Canhavato, thực hiện vào năm 2001. Tác phẩm được tạo thành bằng cách ráp nối các khẩu súng thu được trong chiến dịch “Transforming Arms into Ploughshares”, biến vũ khí thành lưỡi cày, do Giám Mục Denis Sengulane phát động. Hơn 7 triệu vũ khí được cả hai bên dùng trong cuộc nội chiến đã được trao đổi lấy máy may, cày cuốc và xe đạp. Năm 2002, bảo tàng Anh British Museum đã mua tác phẩm này.

Tác phẩm từ vũ khí phế liệu của Goncalo Mabunda

Trở lại với cuộc chiến Việt Nam, những người chịu hậu chấn kinh hoàng nhất là những sĩ quan và viên chức của bên thua cuộc bị tống giam vào những trại được mệnh danh là học tập cải tạo. Họ là những người muốn quên đi cuộc chiến nhưng hoàn cảnh không cho phép họ quên. Ngay từ những ngày đầu của cuộc trả thù oan nghiệt, phần lớn họ đã bị giam giữ trong các doanh trại cũ của Việt Nam Cộng Hòa, những nơi đầy phế tích chiến tranh. Họ nhặt nhạnh những vỏ đạn, mảnh bom vất vưởng trong trại để làm thành những vật dụng không phải cho họ mà cho cha mẹ, vợ con, anh em, những ruột thịt đang bị cách lìa. Những người mà họ quay quắt nhớ từng giây từng phút. 

Những ngày Chủ Nhật được nghỉ lao động, trại giam biến thành một công xưởng thô sơ nhất thế giới. Không có một dụng cụ nào, họ chỉ biết mài trên nền xi-măng. Ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng nọ, họ đã nhẫn nại tạo ra được những chiếc kẹp, chiếc nhẫn, chiếc lược tinh xảo bằng những mảnh kim loại nhặt được khi đi lao động. Những tù nhân chưa bao giờ động chân động tay đến những việc lặt vặt này ngày càng tỏ ra xuất chúng. Nhà văn Chu Tất Tiến kể lại trong bài “Những Kỳ Tài Của Người Tù Cải Tạo: Thời gian dần qua, các kỳ-nhân tù cải tạo xuất hiện. Trong những tháng đầu tiên, bọn cai tù buộc một nhóm 10 người đi tháo “nhíp” (bộ nhún) xe díp để làm dao, rựa cho cán bộ ! Không dụng cụ, không kềm búa, nhóm tù này vơ các cọng rơm lại thành một bó, thi nhau đốt dưới hệ thống “nhíp” của chiếc xe bị cai tù phá lấy hết vỏ xe để làm dép Bình Trị Thiên, cho đến khi nóng bỏng lên, thì một anh, lấy áo tù của mình quấn vào bàn tay và dùng sức vặn những con ốc ra từng ly một! Cứ thế, ngày này qua ngày kia, nhóm tù tay không này đã tháo được mấy bộ nhún xe díp ra để rồi, một anh chuyên nghề lò rèn từ cha truyền con nối, đã lấy bùn đắp lên một cái lò rèn, và đi nhặt những khúc gỗ và sắt vụn biến thành một cái lò rèn y như thật. Mới đầu dùng đá để đập sắt, sau này thì bọn cai tù kiếm được một cái búa, một cái đe thứ thiệt, giao cho anh. Từ đó, những con dao đi rừng đã được thành hình, và đến một hôm, anh thợ cựu sĩ quan này đã làm được một con dao cạo râu, có cán gấp, với cái lưỡi dao mỏng dính, để anh em thử đặt một sợi tóc bên trên lưỡi dao, và khi thổi “phù” một cái, sợi tóc đã đứt làm hai thật ngọt!”.

Nhạc sĩ Xuân Điềm và cây banjo tự chế trong tù.

Đỉnh điểm của những kỳ tài này là hai cây đàn. Một cây Tây Ban Cầm do một anh chế bằng một khúc cây đẽo gọt bằng tay hình hộp đàn rồi…móc ruột. Qua nhiều tháng móc ruột cây đàn guitar đã hình thành bằng nguyên một khối cây không có chỗ ghép! Cây đàn thứ hai là một cây banjo do nhạc sĩ Xuân Điềm chế tạo. Nhạc sĩ Xuân Điềm kể lại: “Tôi mày mò ra bãi phế liệu của Liên Đoàn 5 Công Binh, tìm được một đầu vỏ bom hình cái phễu, đáy của đàn là thau đựng cơm tù và mặt đàn là đĩa đựng thức ăn tù, tất cả làm bằng nhôm. Thân đàn làm bằng chân bàn bi da bị đem làm củi chụm, dây đàn kim loại lấy từ bên trong ruột dây điện thoại, còn phím đàn là những thanh inox của gà mèn đựng thức ăn của lính rất cứng, trục quấn dây đàn làm bằng kíp nổ” . Cây banjo này có tiếng ngân vang không thua gì các cây đàn thứ thiệt ngoài đời!

Được hoàn thành trong trại tù Thành Ông Năm, Hóc Môn vào năm 1975, cây đàn banjo tự chế này đã theo nhạc sĩ Xuân Điềm qua các trại tù. Năm 1980, tại trại tù Bù Gia Phúc, ông đã gặp điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, tác giả bức tượng Thương Tiếc nổi tiếng tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa. Kiến trúc sư Thu đã xin ghi lại một kỷ niệm bằng cách vẽ lại tượng Thương Tiếc trên mặt đàn. Nhạc sĩ Xuân Điềm đã dùng đầu đinh nhọn kiên nhẫn khắc theo nét vẽ cho đến khi hoàn tất với chữ ký của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu.

Sau khi ra tù và qua định cư tại Mỹ, nhạc sĩ Xuân Điềm vẫn sử dụng cây đàn banjo này trong những dịp trình diễn của ban “Tù Ca” do ông thành lập. Ngày 11/10/2020 vừa qua, ông đã tặng cây đàn cho Viện Bảo Tàng Quân Lực Việt Nam tại California! 

Song Thao  04/2021

 Website: www.songthao.com